KHI BÓNG HOÀNG HÔN NGẢ

Mến tặng các cựu nữ sinh Trưng Vương đã có dâu, có rể và đã trở thành bà nội, bà ngoại.
(Thanh Hà TV 54-61)

Ngày Cu Tèo, đứa con trai đầu lòng của cậu con trưởng vợ chồng Liên ra chào đời, vợ chồng nàng đã phải từ chối lời mời của mấy người bạn, nào đám tiệc, nào đám cưới, để vào nhà bảo sanh chờ đợi phút đầu tiên cu Tèo lọt lòng mẹ, xem mặt thằng cháu nội, các cụ còn gọi là cháu đích tôn, nối dõi tông đường, sau bao tháng ngày vợ chồng nàng mong đợi.

Nhìn cô con dâu nhăn nhó, quằn quại trong cơn đau đẻ, cậu con trai Liên, một tay nắm chặt tay vợ, một tay xoa nhẹ lên bụng vợ như chia xẻ nỗi đau đớn của cô vợ sắp lâm bồn, người xưa còn gọi là ”vượt cạn”.

“Đàn ông đi biển có đôi, Đàn bà vượt cạn riêng tôi một mình”.

Đàn ông đi biển có gặp bão tát phong ba cũng còn có người đồng hội, đồng thuyền cùng chống đỡ. Còn người sản phụ trong lúc sanh đẻ, nếu không có chồng bên cạnh để chia xẻ sự đau đớn cùng cực đó, họ sẽ rất cô đơn và tủi thân. Theo tục lệ ngày xưa, người chồng không được vào phòng sanh với vợ. Các cụ cứ nghĩ đàn bà khi sanh nở, cái hôi hám không được trong sạch của máu huyết gái đẻ, sẽ làm người chồng u tối đầu óc. Vì vậy người vợ sau khi sanh cả mẹ lẫn con đã được chăm sóc sạch sẽ, người chồng mới được gặp vợ con. Nhưng ngày nay người chồng luôn được vào phòng sanh với vợ nếu họ yêu cầu. Có chồng bên cạnh khi “vượt cạn” người vợ như có thêm nghị lực để chống chỏi với cơn đau như banh da như xé thịt. Đau đẻ còn được xếp vào hàng đầu của sự chấn động trong con người:

“Thứ nhất đau đẻ, Thứ nhì ngứa ghẻ, đòn ghen”.

Liên thương cảm, khuyến khích con dâu cố gắng, chút nữa thằng cu ra là vui lắm, hết đau liền. Cùng là phận đàn bà, nàng cũng đã trải qua mấy lần sanh nở, làm sao nàng lại chẳng thông cảm và xót xa con dâu.

Các cụ xưa vẫn thường nói:

“Con gái là con người ta, Con dâu mới thực mẹ cha mua về”.

Ý nói con gái đi lấy chồng sẽ không còn là con mình nữa. Trái lại con dâu, họ tốn kém sính lễ theo đúng như nhà gái thách cưới, thì họ coi như họ đã bỏ tiền mua về mới đúng là con của họ. Cái quan niệm này quá lỗi thời rồi, bởi vì các cụ ngày xưa rất bảo thủ, có con gái họ cứ nghĩ là sau khi lấy chồng, con gái họ sẽ bật mí hết những gì bí mật trong công việc làm ăn của họ, của làng nước họ, vì vậy có nhiều nơi họ không dám truyền nghề cho con gái. Nếu con gái lấy chồng cùng làng thì còn may mắn, nếu phải lấy con trai làng khác, họ coi như mất con luôn.

“Có con mà gả chồng gần, Có bát canh cần nó cũng đem qua. Có con mà gả chồng xa, Một là mất giỗ, hai là mất con”.

Điển hình như làng Vòng thuộc tỉnh Hà Đông, Bắc Việt, họ chuyên nghề làm cốm, có ai đi chơi, hoặc đã từng ở Hà Nội vào mùa thu sẽ thấy những bà hàng cốm kẽo-kẹt trên vai đôi quang gánh quẩy hai thúng cốm đi bán, mà phải cốm làng Vòng mới thật ngon. Cốm được ủ trong những tấm lá sen còn tươi, lúa nếp non được làm dẹp thành cốm màu xanh ngọc, quyện với mùi lá sen thật quyến-rũ khó tả, chỉ bốc một nắm cốm nhỏ, bỏ vào miệng nhai từ-tốn, cái vị bùi của lúa non cộng với chất béo của nếp dính giữa hai hàm răng thật tuyệt diệu. Cốm người ta thường ăn với chuối trứng quốc, tức là chuối chín, vỏ vàng xẫm, có chấm nâu lấm tấm như vỏ trứng chim quốc, mới là chuối đủ độ chín, thơm ngọt ăn với cốm rất ngon. Đại-khái chỉ là đặc-sản cốm của làng Vòng mà làm cốm cách nào cho tuyệt-hảo họ còn không truyền bí-quyết cho con gái, chưa kể nhiều nơi có những món ăn đặc-sản nổi tiếng khác nữa mà họ giữ bí-mật nhà nghề. Nếu những bí-quyết mà bị lộ hết, thì còn gì là đặc-sản của làng họ nữa, trái lại con dâu phải biết hết công việc của nhà chồng. Bởi vậy bổn-phân, trách-nhiệm của cô con dâu, nhất là dâu trưởng đối với nhà chồng thật lớn lao, lấy chồng là phải: gánh vác giang-san nhà chồng”.

Liên vẫn thường nghĩ mà thán-phục các nàng dâu ngày xưa, họ thật vất-vả, giỗ tết, cỗ bàn đều do họ phải lo hết. Nếu làm không chu-đáo, họ hàng chê cười là bị mẹ chồng mắng mỏ. Trời lạnh, tuy cực vì rét mướt, song thức ăn làm sớm còn đỡ bị thiu hỏng. Nhưng nếu vào mùa hè, khí-hậu oi-bức, nhà không có tủ lạnh để dự-trữ những thức ăn làm sẵn như ngày nay, phải làm cận ngày cho thức ăn khỏi hư, khỏi ôi... Vì vậy gần đến ngày giỗ tết, các nàng dâu này phải thức thật khuya, dậy thật sớm mới làm cho kịp. Ngày xưa đâu có máy móc mà bào rau, mà xay thịt như bây giờ. Nay vợ chồng nàng cũng có đủ cả dâu lẫn rể, với dâu hay rể nàng đối xử, thương yêu như chính con nàng. Không những thương dâu, thương rể, mà thương cả xuôi-gia. Nàng nghĩ cũng đồng là cha, là mẹ, các con chúng là bạn đời với nhau, xuôi-gia cũng sẽ là bạn thân-thiết của nhau trong tuổi già, để chia xẻ những kinh-nghiệm sống, để cùng ôn lại quãng đời đã qua. Gặp nhau đôi bên cha mẹ không phải giữ gìn, khách-sáo, trò chuyện cởi mở, như vậy các con chúng nhìn vào chúng cũng vui sướng. Nếu đôi khi chúng có cơm không lành, canh không ngọt, hờn giận gì nhau thì đôi bên cha mẹ lại cùng nhau khuyên-bảo, chúng sẽ nghe lời hơn. Một khi cả tứ thân phụ-mẫu mà nói vào thì làm sao chúng không nể được. Dĩ nhiên cha mẹ chỉ là cố-vấn chỉ-đạo tối cao, tối-thượng, còn quyết-định vẫn là chúng nó, và còn định-mệnh đặt-để nữa. Người ta vẫn thường nghĩ “người trong cuộc bao giờ cũng không sáng suốt bằng người ngoài cuộc”. Nhưng nếu người ngoài cuộc là cha mẹ, là bậc trên khuyên-bảo thì phải cho công bằng. Đừng nên với con mình thì cho rằng cái gì cũng đúng, cũng phải. Còn dâu hay rể thì sai, thì quấy. Nếu mình thiên-vị như thế thì không nên xen vào chuyện của chúng, vì khi bị xử ức, dâu hoặc rể chúng sẽ bực-bội, mất tình, mất cảm thì nguy.

“Người trên ở chẳng chính ngôi Để cho kẻ dưới chúng tôi mất lòng”.

Lúc ấy sự khuyên-bảo bậc cha mẹ sẽ chẳng giúp được gì, mà ngược lại như lửa đổ dầu thêm, rồi các con chúng lành nhau chẳng thấy đâu, lại thành giận nhau thêm.

Trong những buổi họp mặt bạn bè, các bà bạn Liên có người lại cho rằng “dựng vợ gả chồng cho con là xong bổn phận” và “không nên xen vô chuyện chúng nó, đời chúng nó, chúng nó tự lo. Đời cua, cua máy, đời cáy, cáy đào”. Nhưng với Liên, nàng không thể vô tình, thờ-ơ trước sự buồn phiền của các con. Chúng dù có bao nhiêu tuổi, chúng có là ông này, bà nọ, nàng vẫn vui theo cai vui của chúng và buồn theo cái buồn của chúng, như thuở chúng còn thơ-dại. Liên vẫn thường bảo các con “Về kiến-thức chuyên môn của học-đường xứ này, các con học từ nhỏ ở đây, các con dĩ-nhiên hơn cha mẹ, nhưng về hiểu biết về trường đời, các con không thể hơn cha mẹ được.

Đời bây giờ không còn mấy cái cảnh:

“Chồng giận thì vợ làm lành. Dịu-dàng thỏ-thẻ rằng anh giận gì?”

Vì trong cuộc sống hiện đại, cả vợ lẫn chồng đều phải đi làm, ai cũng có những áp lực của đời sống, bởi vậy người vợ khó mà hạ mình chiều chồng như ngày xưa, cái thời điểm mà người chồng như cái tăng cái tán của gia đình. Nếu một trong hai vợ chồng mà có bất bình, bực bội điều gì, thì một người phải nhẫn nhịn cho êm cửa ấm nhà, vì “cơm sôi bớt lửa sẽ chẳng vơi giọt nào,” đó là thượng sách mà các cụ dạy bảo để giữ hạnh phúc gia-đình, câu nói này bây giờ nên áp dụng cho cả đôi bên, không hẳn chỉ dành cho người vợ đối với người chồng như ngày xưa các cụ suy nghĩ.

Cha mẹ nào cũng mong cho con hạnh phúc, lập gia đình rồi thì có con, có cái ăn đời ở kiếp với nhau đến răng long đầu bạc.

Ngày trước, khi các ông bà bạn vợ chồng Liên mời vợ chồng nàng đi dự, hết cưới con trai rồi lại con gái. Lúc đó các con của vợ chồng Liên chưa học hành xong, nàng cứ xuýt-xoa với các ông bà bạn, và ước ao sau này khi các con thành đạt rồi, chúng cũng mau lập gia-đình, thấy chúng nó yên bề gia thất, thì bậc làm cha mẹ mới yên tâm. Nhưng các bạn Liên, những người đã qua cầu, đã có kinh nghiệm dựng vợ gả chồng cho con. Họ cứ bảo nàng: “Chúng nó có lấy nhau xong cũng chưa yên đâu, chúng vui vẻ, hạnh phúc thì không nói làm gì, nếu chúng mà cơm không lành, canh không ngọt, chí chóe nhau thì mình cũng quýnh lên, rồi cứ phải làm quan tòa bất đắc dĩ, mời chúng đi ăn, đi chơi để giảng hòa cũng khô cổ, bỏng họng.” Hồi trước, khi con trai của vợ chồng Liên chưa lấy vợ, nếu nó có bạn bè thân thiết với cô nào, cô bạn gái nó có chiều chuộng, khéo léo với nàng, các bạn nàng lại ví von:

“Chưa lấy được con bà thì tôi cho bà ngồi lên giá [thờ]. Lấy được con bà rồi, thì tôi đá bà ra”.
Nghe sao mà nó tàn nhẫn thế !

Trở lại chuyện con dâu của vợ chồng Liên lâm bồn. Khi cơn đau đẻ dữ dội đến, bác sĩ đã cho chích thuốc giảm đau cho người mẹ, và chỉ hơn tiếng đồng hồ sau trong phòng sanh đã có tiếng oe oe của trẻ mới ra đời. Vợ chồng Liên và ông bà xuôi-gia rất đỗi vui mừng, vì thấy con mình đã mẹ tròn con vuông, cô y tá bồng thằng cu cho mọi người coi mặt. Cô con dâu của vợ chồng Liên tuy còn mệt mỏi, nhưng vẫn cố tươi cười, vì đã cho ra đời được một tác phẩm mà cả nhà mong ước. Và vẫn như ý định từ khi biết vợ sanh con trai lúc thai nhi còn trong bụng mẹ, cậu con trai của vợ chồng Liên gọi con là “Cu Tèo” thân mật ở nhà cho thật thuần túy Việt Nam, sau cái tên trong khai sinh vừa Mỹ vừa Việt đề huề. Cu Tèo được ông bà nội, ông bà ngoại cưng như trứng mỏng, thằng bé có đôi mắt sáng, tinh anh và chiếc miệng cười rất tươi. Cu Tèo còn được coi như cái vốn của bố mẹ nó. Ngày Cu Tèo bập bẹ nói, từ câu nói vỡ lòng, ngắn gọn như “Bố, Mẹ, Ông, Bà…” Rồi tập những câu dài hơn. Bố Cu Tèo muốn nó lớn lên phải biết nguồn gốc nó là người Việt Nam, bởi vậy khi ai hỏi Cu Tèo”

-Bố dạy Cu Tèo Việt Nam làm sao?

Nó bèn nắm hai bàn tay nhỏ xíu giơ lên trời, cố hét to, giọng ngọng nghịu:

-Vịt Nham muôn nhăm, Vịt Nham muôn nhăm [Việt Nam muôn năm]

Vì vậy mà các bạn của bố mẹ Cu Tèo thường gọi đùa nó bằng một cái tên rất cách mạng: “Nhà ái quốc tí hon”.

Khi Cu Tèo được tròn hai tuổi thì mẹ Cu Tèo lại cho ra đời một một em bé gái. Thế là đủ trai đủ gái, các cụ còn gọi là “Đủ nếp đủ tẻ”. Vợ chồng Liên vui khôn tả, vì đúng như mơ-ước của cả nhà. Em gái Cu Tèo có đôi mắt to, đen láy như hột nhãn với hàng mi dài cong vút, mái tóc thật rậm, phủ quanh khuôn mặt bầu bĩnh như búp bê. Bố Cu Tèo đặt cho cô gái cưng tên gọi ở nhà là Tí-Ni. Tí-Ni cũng chỉ là nickname, còn tên chính-thức trong giấy khai-sanh cũng vừa Mỹ vừa Việt như anh.

Lần nào vợ chồng Liên đến thăm các cháu, vui đùa, ẵm bế mà không muốn rời. Mỗi lần vợ chồng nàng hỏi Cu Tèo:

-Cu Tèo thương ông bà nội không?
Nó tròn mắt, cong môi trả lời:
-Tèo thương ông bà nội lắm, to bằng ông trời.
-Thế Tèo thương ông bà nội để đâu?
Thằng bé đưa tay mặt lên chỉ bên ngực trái:
-Tèo thương ông bà nội để trong tim, tim ở bên này nè!
Rồi nó lại đưa tay chỉ ngực bên mặt lắc đầu:
-Bên nay hỏng có tim.

Cả nhà cười thật vui, vì thấy thằng bé thông-minh, bố nó dạy có một lần mà nó nhớ hoài.

Còn một niềm mong-ước nữa của vợ chồng Liên là mong cho con gái nàng sanh cho đứa cháu để có đủ cháu nội, cháu ngoại cho cái tuổi bóng xế được vui hơn.

Mỗi lần gặp ông bà xuôi-gia, bố mẹ chồng của con gái nàng, bà xuôi-gia cũng trách:

Nó chậm có con là tại bác đấy, hồi cưới xong bác cứ khuyên nó khoan hãy sanh bởi vậy nó mới khoan cho cả bao năm chưa chịu sanh.

Sở dĩ Liên khuyên con như vậy, vì khi con gái nàng mới lấy chồng, nàng thấy đời sống bên Mỹ này quá vất vả, phức tạp, lúc đó con gái nàng lại còn quá trẻ. Tính Liên rất thực tế, bởi vậy nàng khuyên con gái lo công ăn, việc làm vững chắc rồi hãy có con. Bên này không có người giúp việc dễ dàng như bên quê nhà. Cưới xong không vướng con cái tha hồ đi chơi đây đó. Có con là ràng buộc khó mà đi chơi xa.

Thời con gái của vợ chồng Liên còn đi học, nếu nó có bạn trai, nàng thường khuyên:
Bạn thôi nhé! Đừng có yêu mà không lấy được lại khổ đấy, lo học đã!

Rồi khi nó trưởng thành, nó có người yêu, nàng lại bảo:
Tìm hiểu nhau cho kỹ đi, xem có hợp tính hợp tình nhau không, khoan hãy cưới nhé! Cưới rồi đi vào thực tế biết bao phiền toái cuộc đời, không hợp nhau, cãi nhau là khổ lắm đấy.

Thật mâu thuẫn, Liên cũng chẳng hiểu tại sao, lúc trước đi ăn cưới con bạn bè, nàng cứ mong ước rồi các con nàng học xong, thành đạt sẽ có vợ, có chồng như con cái của các bạn vợ chồng nàng… Nhưng khi chúng đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân nàng lại e ngại, không biết chúng lấy nhau rồi, liệu có được hạnh phúc không?

Con gái Liên nó cũng nghe lời mẹ khuyên, cưới xong khoan đẻ, vì vậy đã mấy năm qua, công việc, nhà cửa vững chắc, vợ chồng nó đã đi du lịch tứ-phương, nay thì chẳng phải đôi bên cha mẹ mong cháu, mà chính vợ chồng nó cũng mong con. Thật sự có con vợ chồng nào chẳng muốn, vì con là viên gạch hàn gắn những lúc vợ chồng giận hờn, là niềm vui cúa gia-đình, nghe tiếng cười trong như pha-lê của trẻ thơ, với gương mặt ngây thơ tươi sáng, bậc làm cha mẹ quên hẳn những mệt mỏi vì công việc, song đời sống bây giờ nuôi con không còn giản-dị như ngày trước. Nhất là khi chúng vào tuổi vị thành-niên, chúng thường nghe bạn bè hơn nghe cha mẹ, dạy bảo chúng rất cực thân, mệt óc, bởi vậy mà có nhiều cặp vợ chồng dư thừa điều-kiện vật chất lẫn tinh-thần mà cũng chỉ dám sanh một hoặc hai đứa con. Đâu còn ai dám mong con đàn cháu đống như ngày xưa. Đôi khi có con chẳng biết đó là cái phúc hay cái tội. Vì nếu được đứa con khỏe mạnh, ngoan ngoãn, hiếu-đễ thì thật là đại phúc, ngược lại nếu phải đứa èo-uột, yếu đau tật-nguyền hay hư-hỏng, bất hiếu, bất mục thì thật lao tâm, khổ não cho bậc làm cha mẹ, có người còn mất hạnh-phúc, thậm chí đến tán gia bại sản vì con, như vậy thì đúng là oan-gia nghiệp-chướng.

Con gái Liên tuy đường con cái muộn màng, nhưng vợ chồng nó rất hạnh-phúc, điều đó làm vợ chồng nàng cũng mừng. Mỗi lần thấy vợ chồng con gái nàng nó chiều chuộng, âu yếm nhau, Liên lại cười vui nói với vợ chồng nó:
-Lấy được người mình yêu đã là khó, nhưng yêu được người mình lấy lại càng khó hơn. Thế mà vợ chồng con cùng lấy được người mình yêu, và rồi khi sống với nhau bao năm nay mà vẫn yêu nhau như thuở ban đầu, như vậy là ý hợp tâm đầu, thuận vợ thuận chồng thì tát biển Đông cũng cạn. Bố mẹ mừng lắm, các con phải cám ơn trời phật đã ban cho các con được hạnh phúc như vậy.

Liên cũng đã thấy nhiều cặp vợ chồng con các bạn của vợ chồng nàng, hạnh phúc mới đó, mà rồi mất đó, vừa hôm nào đám cưới tưng bừng, khi đi vào thực tế, không hợp nhau, thế là lặng lẽ chia tay. Thật ra lỗi chẳng biết tại ai, lúc thương nhau thì trái ấu cũng tròn, mà đã hết thương nhau thì trái bồ hòn cũng méo, rồi sư nói sư phải, vãi nói vãi hay, ai cũng không nhận lỗi ở mình. Liên chợt liên tưởng tới câu hát của một nhạc sĩ nào đó, nghe rất bình dân, nhưng lại rất thực tế, rất nhân sinh quan:

“Không phải tại anh cũng không phải tại em. Tại trời xui khiến nên chúng mình xa nhau.”

Thật sự không hợp nhau thì thà xa nhau, còn hơn cố sống gượng ép để đau khổ cho cả hai người; khi có con lại còn khổ hơn. Hãy cứ nghĩ tất cả do định-mệnh an-bài hết thì chẳng có gì đáng buồn, đáng hối tiếc ở trên cõi đời này. Nghĩ tới những gì đã đến với gia đình Liên, nàng thầm cám ơn trời phật. Nàng vẫn thường bảo các con:

-Mình cứ ăn hiền ở lành rồi trời thương, phật độ cho, trời cho đến đâu thì hưởng đến đó, đừng nên đòi hỏi nhiều, cái gì mình cũng chỉ xin tương-đối thôi, như vậy mới hạnh-phúc được.

Nghĩ tới đây Liên chợt nghĩ đến câu khuyên của chú nàng, mỗi khi nàng có chuyện buồn phiền, tâm sự thở than với ông:

-Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc. Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn.

Có nghĩa là: Ý thức được mình đủ, ý thức được mình nhàn, thì mình thấy đủ, thấy nhàn.

Cũng như nhà văn Madame De Stael của Pháp nói:

-Muốn sung sướng thì hãy nhìn những kẻ kém may mắn hơn mình.

Tóm lại mình hãy tùy theo hoàn cảnh mà sống, bằng lòng với những gì mình có. Vui buồn, hạnh phúc hay khổ đau đều do ở mình hết cả.

Fresno, 2003

6/2003
Back