Hãnh Diện Làm Người Trưng Vương

Một niềm vui nhẹ nhàng khi nghĩ đến hai chữ Trưng Vương, mái trường yêu dấu như một ánh hào quang trong cuộc đời, dẫu mấy ai cũng có được. Chúng tôi, các nữ sinh Trưng Vương đã phải trải qua một cuộc thi tuyển rất khó, để vào năm đệ thất và sau đó suốt 7 năm từ đệ thất đến đệ nhất liên tục sáng đến trường trưa về học... ngày nào cũng vậy, chúng tôi vẫn thường xuyên gặp mặt, thế bảo sao học trò Trưng Vương không thân nhau cho được?

Ðối diện với thảo cầm viên, ngôi trường mái ngói tọa lạc tại số 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm, con đường thông qua Hải Quân Công Xưởng, nhưng đã bị bít lại tạo thành con đường cụt, ra vào trường chỉ có một lối mà thôi (kẻ thì nói là Tuyệt lộ, người thì gọi là Mê lộ, cứ y như là đường vào tình yêu vậy).

Kể từ ngày xa quê hương vì thương bạn nhớ thầy cô, nên rất nhiều hội ái hữu cựu nữ sinh Trưng Vương miền nam Cali ra đời, tính đến nay đã được 20 năm, tiến trình và sinh hoạt đã được các chị cựu nữ sinh ""lớn"" như chị Vũ Bội Tú, chị Vân Bằng, chi. Nghiêm Hiếu, chi. Phương Thảo, chị Kim Toàn...và rất nhiều các chị khác sẽ trình bày cùng các bạn đọc.

Ra trường năm 1971, đã 31 năm rồi thế mả lòng tôi vẫn vương vấn, nhớ thương và lưu luyến làm sao!!! Nhớ những buổi sáng tinh sương, đến trường, nhớ những buổi chào cờ, những lần trốn học lang thang quanh quẩn sân sau của trưởng để thơ thẩn, thẩn thơ. Nhớ những lần bị ốm vào phòng thuốc để làm nũng các cô giáo lo lắng và săn sóc cho mình, nhớ những ngày đi tập văn nghệ, nhớ những ngày trốn học vào sở thú. Nhớ cô Thục Khang daỵ nhạc, nhớ cô Uyên dạy toán, nhớ cô Kim Thi dạy công dân, nhớ cô Cao Hương dạy anh văn, nhớ cô Ðức dạy lý hóa, nhớ cô Trinh dạy may, nhớ bà giám học Nguyễn Thị Ninh hiền lành, nhớ bà tổng giám thị Nguyệt Minh sang trọng làm sao. Tất cả các cô, các thầy đã rèn luyện, daỵ dỗ cho chúng tôi có ngày hôm nay, để chúng tôi khi rời mái trường đã rất ung dung và tự tin. Sau 7 năm ""dùi mài kinh sữ"", kể ra thì cũng rất dài mà cũng rất ngắn cho một đời.

Ba năm đàu tiên đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, thuở còn mặc áo đầm trắng đi học, tôi ngồi gần nhỏ Thúy Anh, Ngọc Yến, Kim Nhung và Hồng Nguyệt, sau đó quen thêm Khánh Linh, Bích Huyền, Phượng vá Thu Lan.

Mãy đứa lẽo đẽo đạp xe đạp theo nhau đi học, cho đến năm đệ tứ là năm cuối cùng của lớp buổi chiều vì đệ tam là bắt đàu học buổi sáng. Năm đệ tứ là năm đẹp nhất, le lói nhất của mấy cô bắt đàu trổ mã con gái ra, tuỗi 16 đẹp nhất của đời người. đã bắt đầu có những câu truyện tình yêu, có những giọt nước mắt ngà, đôi khi cũng có giọt nước mắt cá sấu nữa. Cổng sau trường là con đường cụt, lá vàng rơi nhiều đã tạo thành một công viên mà chúng tôi gọi là ""công viên lá vàng"", nơi đây cũng là nơi hẹn lò, để tụi tôi thủ thỉ kể cho nhau nghe chuyện linh tinh, hỉ, nộ, ái, ố. Chính những chiếc lá vàng cũng đã từng làm nhân chứng cho những cuộc tình vừa chớm nở.

Ðến năm học đệ tam, đệ nhị và đệ nhất chúng tôi phải vật lộn với 2 cuộc thi tú tài...Bởi lẽ học sinh Trưng Vương chúng tôi không được quyền thi rớt, đâu phải học chữ không đâu, nào học nhạc, học công dân giáo dục, học thể dục, học may vá, học nấu ăn, thậm chí còn học võ nữa. Ấy thế mà chúng tôi vẫn còn nhiều trò khác lắm, nào làm báo, làm văn nghệ, thi đố vui để học, thi gia chánh, đi dự liên trường, vui nhất là đi bán báo cho các trường nam, đi ủy lạo chiến sĩ, đi cứu lụt tuy bận rộn nhưng rất vui. Năm học đệ nhất tôi học chung với Trấn Diệu Hằng. Diệu Hằng làm thơ hay từ bé, trường tôi có rất nhiều nhà thơ như Uyên Ly, Phùng thị Nụ tức Kim Vi, Hoàng Thanh Long tức Hoàng Vi Thảo...Các cô nương này rất nhẹ nhàng, từ tốn, ban chap hành năm ấy chủ tịch là Hoàng Ánh, ban xã hội la Tô thị Viên, ban văn nghệ là Liên Hải và Thúy Lan làm ban khánh tiết, hay còn gọi là ban đi chơi. Năm ấy là năm đày kỷ niệm khó quên. Ban chap hành được phó Tổng Thống cho đi nghỉ mát ở Nha Trang, chuyến đi này lại có cuộc đua văn nghệ liên trường. Vở kịch ""Bà Mói"" do Liên Hương viết đã được hạng nhất, lúc ấy, bà mợ Thanh Bình và bà mối Vân Hương, những vai khác là Nguyệt Nga, Anh Tú, Tiểu Nương, Thúy Lan đã cho khan giả cười bể cả bụng. Cũng chuyến đi này tôi đưọc thân thêm nhiều bạn, cô nào cô nấy được diện quần áo đẹp chứ không áo dài đồng phục nữa. Tôi mê nhất là người đẹp Tiểu Nương ban văn nghệ, Bảo Sơn tóc tém chân dài ban thể thao, lại thêm Ðạm Hương, Thu Hương, Hoàng Ánh, Thanh Viên và Kim Vị nữa. Nhớ những lần tập đi tập văn nghệ hợp ca ""Hòn Vọng Phu"", 20 đứa chúng tôi bỏ học đi tập hát đến gần 2 tháng, và còn nhớ rất rõ Trang và Liên Hải thay đến 4,5 chiếc áo dài để làm xướng ngôn viên. Thế mới nói Trưng Vương không điệu không phải Trưng Vương.

Ngoài việc làm văn nghệ lại thêm chuyện chị em kết nghĩa buổi sang buổi chiều, tôi tìm được em nuôi Phương Dung, Kim Khuê xinh đẹp, rồi đến Mai Khanh chị của Phương Dung, Mai Khanh là hoa hậu của trường đã được chọn làm bà Trưng Trắc, bây giờ chúng tôi gọi là Mai Khanh (anh Tố). Còn nhóm thể thao Bảo Sơn thì có Thuận Hòi, Bạch Cúc, Hồng Anh, Lê Ngọc Phú tức Mai Khanh bây giờ. Còn thêm người em kết nghĩa nữa mà tôi yêu thích nhất, đó là Trần Thị Trúc Mai. Tôi và Mai đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị năm 1971, phải đi tập múa kiếm đến cả 10 tuần mà vẫn còn bị thầy giáo Ðoàn và cô Vân Nhung cầm roi đánh. Bây giờ nhớ đến cầm hai cây kiếm trên sân khấu nặng ơi là nặng mà vẫn còn run, chuyện văn nghệ dài dòng hơn chuyện tình yêu. Cùng năm đó, cuộc thi thời trang thế giới, đủ mọi các nước, tôi và nhỏ Ðồng Thị Mỹ Huê (2 cô Hawai), nhỏ Xuyến Diệu (Ðại Hàn), nhỏ Bích (Ấn Ðộ), và rất nhiều bạn khác mà tôi đã quên tên. Màn ""đám cưới ngày nay và ngày mai"", cô dâu Minh Châu vai cô dâu hippy, cô Phương Dung và đặc biệt Vũ Mai Khanh vai chú rể thời nay mặc vest. Mai Khanh cao trắng, tóc tém đóng vai chú rể như thật, đó là Mai Khanh mà bây giờ gọi là Mai Khanh (anh Phong). Ngoài những bạn vừa kể, Thúy Lan lại có thêm bạn gọi là để tâm sự hoặc ""rước néon"" có nghĩa là ""đi phố"", đó là Bích Vân ròm, Lý ốm, Nga mập, Minh Hương, Tường Vân điệu ơi là điệu, đúng là không điệu không phá, không phải là học trò Trưng Vương.

Sinh hoạt đáng nhớ nưã là chúng tôi ra tận Huế để cứu trợ bão lụt...Tụi tôi tận mắt nhìn thấy sự thống khổ cơ cực của nhân gian, và chúng tôi bắt đầu yêu người, yêu bạn nhiều hơn.

Cuối năm đó, tôi phải thi tú tài iivà phải thi đău, phải xa trường, xa bạn, xa thầy cô...Ôi, cái năm 1971 là cái năm biến cố lớn cho tôi, rời xa Trưng Vương, mỗi người một ngả, lên đại học thì đâu có như ở Trưng Vương. Ở đại học bạn bè chỉ có trên đàu ngón tay thôi, rồ đến biến cố 1975 anh em, bà con, bạn bè biền biệt, bặt tăm bặt tích.

Tôi đến Mỹ năm 1979 và ở tại tiểu bang Minnesota, chỉ có một cô bạn duy nhất là Quang Minh, năm 1981 tỉm được Trần Thị Trúc Mai ở Virginia. Tôi đã lên tận Virginia thăm Trúc Mai, nàng đã yên bề gia that. Sau đó 1982 tìm được Diệu Hằng đang ở California, thư từ, điên thoại qua lạì và cuối cùng khi học xong, tôi quyết định về miền đất ấm Cali. Mùa Xuân Cali người cho tôi tình cảm ấm áp đàu tiên của một tình bạn, tình bạn Trưng Vương đó là Diệu Hằng. Mặc dù khi còn đi học, tụi tôi không thân nhau lắm vì tôi thì rất phá, rất điệu, còn Diệu Hằng thì rất hiền, thùy mị và kín đáo, nhưng tôi vẫn mê giọng nói của nàng, mê thơ của nàng. Ngày đến Cali cũng đúng vào ngày Diệu Hằng ra mắt tập truyện ngắn của nàng mang tên ""Vũ điệu loài công"". Dù bận rộn, Hằng vẫn đón tôi, Hằng cầm vali của tôi và nói ""Về nhà tao trước rồi tính sau"". Thế là tôi và Hằng cùng con gái là bé Thúy Khanh, và bé Chôm Chôm con của Diệu Hằng sống chung với nhau được một thời gian. Hằng đưa tôi đến hội cựu nữ sinh Trưng Vương lúc ấy là trụ sở đặt tại Bolsa, phòng mach của nha sĩ Phạm Ðình Tuân, chủ tịch là chị Vũ Bội Tú. Chị Tú đón nhận tôi rất nồng nàn và ân cần như một cô em gái nhỏ. Sau đó tôi gặp người đẹp Ðoan Trang tại một tiệm làm tóc, chị nhìn tôi đầy thiện cảm, rất vui vẻ chị hỏi thăm tôi và biết là học sinh Trưng Vương, chị liền rủ tôi vào hội, rồi từ từ tôi có thêm các chị, chị Vân Bằng, chị Diệp, chị Phương Lan, chị Lan Phương, chị Kỳ Dung, chị Kỳ Hạnh, chị Tuyết Yên, chị Kim Toàn, chị Song Phượng, chị Tuyết Ngọc, chị Phương Thảo, chị Tuyết Cao... Rồi gần đây lại biết thêm mấy bà chị nấu ăn ngon quá, làm sao mà quên được món bún ốc của chị Hồng Lập, món bún vịt của chị Ðoan Trang, nhiều lúc tôi tự hỏi nếu không có hội ái hữu Trưng Vương này liệu mình có thể biết được các bà chị dễ thương này không?

Còn đám Trưng Vương nhỏ, tôi đã tìm được Tiểu Nương đẹp, Bích Hạnh điệu, Liên Hải, Mai Khanh, Diễm Mai, Diễm Khanh, Quỳnh Mai, Mai Mai, Diệu Thúy, Diệu Oanh, Phạm Ðào Bạch Tuyết và Kim Mai. Vừa lại gặp nhau là ráp vào nhau như kim châm rồi, thế là tôi bị lôi cuốn vào ban văn nghệ của hội, và đóng vai ""Tống Lê Chân"" cho hai bà Trưng, rồi sau đó nhập vô ban tam ca TVT (Trưng Vương Tếu).

Năm 1986, nhờ viết báo Mê Linh, bạn nhỏ của tôi là Khánh Linh mắt bồ câu đã tìm ra tôi nhờ đọc báo, sau tìm được Nhung, Thúy Anh và Ðỗ Phương Nam hiện tại ở Texas, rồi tìm được Kim Vi ở Canada, lòng tôi vui mừng biết mấy. Thơ có câu ""Ðố ai nằm võng chẳng đưa, gặp người bạn cũ chẳng mưa trong lòng"", có phải không các bạn hiền?

Thế rồi thời gian cứ trôi qua, lâu lâu lại nghe một cú phone của một cô bạn cũ. Tôi lại tìm được Dương thị Mỹ, rồi tìm đuợc Niệm và Vinh cùng với ngưởi đẹp Lê Mộng Long, tất cả đang ở San Diego.

Về Cali rồi, gia nhập hội đã 16 năm, giòng thời gian cứ trôi bao nhiêu là thay đổi, kẻ đến, kẻ đi, kẻ còn, người mất, biết bao nhiêu là chuyện vui buồn, kể sao cho hết. Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn còn nhau, dăm ba đứa bạn rủ nhau đi ăn bún riêu, bún ốc, đi shopping, đi biển, kể cho nhau nghe những chuyện vui buồn chồng con, sắc đẹp, xã hội, văn nghệ, văn gừng, văn chương, văn hóa ""linh tinh"" là chúng tôi đã thấy vui và qúa đủ rồi. Ðặc biệt năm nay đúng 20 năm thành lập hội. Tháng 8 năm 2002 này sẽ có một đêm Trưng Vương áo xanh hội ngộ, tổ chức tại Hyatt Hotel thành phố Garden Grove. Sau đó lại kéo nhau đi du lịch nữa. Rất nhiều Trưng Vương từ các tiểu bang khác cũng như ở Canada, Ðức, Úc và nước Áo sẽ cùng vế Nam Cali. Ðây là cơ hội và ngày vui 20 năm một thủơ. Tôi rất nóng lòng và nao nức không biết rằng mình còn tìm được bao nhiêu cô bạn nữa?

Có lẽ linh hồn Hai Bà Trưng linh thiêng, cho chúng ta còn gặp lại nhau. Cảm ơn đời, cảm ơn người, cảm ơn hội ái hữu cựu nữ sinh Trưng Vương và tôi rất hãnh diện nói với mọi người rằng "" tôi hãnh diện là người Trưng Vương"".

Tái bút: Xin mấy cô bạn niệm tình tha thứ, nếu Thúy Lan có quên tên hay thiếu sót một ai.

Nguyễn Thị Thúy Lan (Lani) TV 64-71
Back