NGÀY XƯA HOA GẤM … NGÀY SAU HOA ÚA …

Thời hoa gấm của tôi đẹp nhất là khi còn học dưới mái trường Trưng Vương Sài Gòn. Thời gian ở ngoài Bắc quá ngắn ngủi và còn quá bé, nên tôi chưa biết gì. Di cư vào Nam, tôi vừa tròn 13 tuổi, cái tuổi “ô mai” đầy mơ mộng và nghịch ngợm, lại gặp đúng môi trường bạn bè cùng chí hướng, nên tôi có nhiều kỷ niệm thật đẹp…

Những ngày đầu di cư vào Nam, trường Trưng Vương phải học nhờ trường Gia Long. Hàng ngày, tôi cùng ba chị em Nhung, Thục, Thảo đi bộ đến trường. Dưới hàng cây xanh bóng cả của con đường Bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện, vừa ngắm cảnh, nên ngày nào cũng đến trễ… Có khi mải mê ngắm cảnh dọc đường, đến lúc xem lại đã gần đến giờ, chúng tôi phải thuê xích lô chất 4 mạng lên để đến trường cho kịp giờ. Ngày nào như ngày nấy, chúng tôi đều tất tả bước vào hàng ngũ chào cờ để khỏi bị phạt.

Tuổi thơ của tôi qua nhanh với những người bạn nhỏ bé, vụng về. Tôi nhớ nhất là Tuyết Như được xếp ngồi cạnh tôi ngay từ lúc mới vào lớp đệ lục. Có lẽ nàng chê tôi lười học (mà tôi lười thật, về đến nhà là quăng sách vở mất tiêu, chẳng bao giờ để ý tới) nên chả thèm chơi với tôi đến cả năm. Cho nên dẫu ngồi cạnh mà “vô duyên đối diện bất tương phùng”. Sau này, chính nàng lại là người bạn thân nhất của tôi, đến tận bây giờ. Rồi đến Quế Hương cô bạn bé nhỏ hay khóc thầm dưới hàng cây mỗi khi ra về. Kim Long tuy nhỏ nhưng đạo mạo. Kim Dung tóc dài tha thướt…

Về phần giáo sư tôi nhớ nhất đến cô Tỉnh dậy Việt văn… rất tận tịnh, cô Đào dạy Pháp văn mặt lúc nào cũng lạnh như tiền, Cô Nại quý phái, Cô Bội Hoàn tươi tắn, Cô Uyên vui vẻ, Cô Riệp vội vàng, Cô Ngà cởi mở…

Biến cố lớn nhất với tôi là năm đệ Tứ. Năm đó trường xếp loại học sinh giỏi, dốt theo từ B1 đến B6. Ai giỏi học B1, từ từ mà đi xuống. Khối bạn bè của tôi tự dưng xáo trộn, đổi đi lung tung. Không hiểu sao, tôi được xếp vào lớp đệ tứ B3, mặc dù suốt từ đệ Lục, đệ Ngũ tôi chả thèm học hành chi cả. Vì năm đó có kỳ thi, lại thêm mất một số bạn cũ nên tôi quyết chí học hành đàng hoàng.

Những người bạn tôi nhớ nhiều nhất năm đó là Ngọc Ly, trưởng lớp ngồi ngay đầu bàn tôi. Rồi đến Thúy Vân, Kim Dung, hai nàng yểu điệu có hạng. Ép tận trong cùng là Thanh Hương, năm đó còn nhỏ tí. Trong lớp tôi có Đoàn Thị Hảo nổi tiếng chăm chỉ, Vân Khanh phá phách, Minh Loan, Tâm hiền lành…

Phần các giáo sư, tôi nhớ đến Cô Lan béo dạy Anh Văn, lúc nào cũng nũng nịu như tài tử Roseanne bây giờ. Thầy Quý dạy toán được tôi thích nhất vì thầy hay gọi tôi lên sửa bài mẫu. Năm đó tôi được “bảng hổ đề danh” khá cao nên được xếp lên lớp Đệ Tam B1 (ban Toán).

Có thể nói “thời kỳ hoa gấm” của tôi nở rộ nhất vào năm này. Nàng Tuyết Như hay khóc dễ cười cũng là một cây phá phách. Đối tượng phá phách của chúng tôi không hiểu sao lại chính là Thày Hối dạy Việt văn. Có thể vì cụ dễ dãi, lại hay phó mặc tụi tôi mỗi khi cụ trao bài cho chị Tuyết Như đọc cho cả lớp chép. Có một lần Chị đọc đến chữ “đái ngựa” chữ “Đ” thày viết tháu thành chữ “D”. Chị Như hỏi tôi, tôi nói kỳ quá, thôi đánh vần đi, Chị bèn nói: “Cả lớp ơi! Chữ này kỳ quá, để tôi đánh vần nhé…D…A…I…sắc!” Ôi thôi cả lớp cười như vỡ chợ. Thày Hối giật mình xem lại, vội vàng cải chính: “Đái ngựa mà, đây là cái đai dùng để buộc yên cương ngựa”. Thật là “bé cái lầm”!

Năm đó tôi được học với Cô Hồng lúc nào cũng e lệ, xinh xắn, Cô Ninh duyên dáng, Thày Uyên dạy Anh văn với truyện tình “Forget-me-not” đầy thơ mộng. Thầy Vĩnh hay để rơi phấn, khi để phấn ở bảng đen…

Nổi bật nhất của lớp tôi năm đó là tờ báo TV với bài vở đặc sắc của các bạn. Tôi cũng đóng góp một bài thơ khá dài kể lại chuyện chết hụt của một nhóm bạn TV trên chuyến tàu nhỏ ở ngoài Vũng Tàu, với nhan đề là “Cánh buồm bất tử”.

Mục hấp dẫn không kém làm nổi tiếng lớp B1 một thời là màn kịch “Cô gái bán gươm”. Các nhân vật trong đó tôi thuộc lòng từng người vì tôi là một “thợ vịn” có hạng luôn luôn tháp tùng đoàn kịch ra tập để…trốn học! Trước hết là cô “Đào thương” Linh Chân đa sầu, đa cảm. “Tráng Sĩ” Nguyễn Thị Thanh nay đã ra người thiên cổ. “Bà già” Giáng Tuyết, “Quan quân” Nguyễn Thị Điển, Tuyết Như, và “Chàng say” Thanh Hải.

Những bạn học năm Đệ Tam cũng để lại trong tôi nhiều kỷ niệm và hình ảnh đặc biệt. Trương Hoàng Yến mềm mại như một con mèo con. Châu Hà tươi cười cởi mở. Trinh Thục nghiêm trang lạm trưởng lớp. Cặp bài trùng Kim Long - Bùi Thị Thúy. Hải Yến láu táu. Ngọc Vinh lô tô…

Sang năm Đệ Nhị. Tôi trở lại Gia Long học cho gần nhà. Có thể nói đó là năm học…chết, vì buồn vô kể. Xa lũ bạn bè quỉ quái TV, gặp một số bạn mới Gia Long vừa hiền lành, vừa ít nói. Thật là… “Ôi thời oanh liệt nay còn đâu!” Có lẽ cũng nhờ vậy mà tôi chăm chỉ học hành, cuối năm lại được “Công Thành Danh Toại”, có cái bằng Tú Tài I ban toán hạng khá cao, trong khi đó rất nhiều bạn tôi bị rớt đài…ở lại thêm 1 năm nữa!

Năm đó, bộ Giáo Dục đặc cách mở lớp Đệ Nhất ban Toán đầu tiên ở Trưng Vương với 17 “mạng” nữ. Vì thế mà tôi lại được “Châu về Hiệp Phố” không phải sang học nhờ Chu Văn An như những năm trước nữa. Nhưng…năm học này không được vui như năm Đệ Tam vì có đến hơn ½ lớp là dân Gia Long đổi qua, lại thêm 4, 5 người ờ đâu đến học. Các bạn mới của tôi đều là những “cây gạo cội” có hạng như Quỳnh Anh, Phi Yến, Thanh Thủy, Như Ngọc… chả biết đùa nghịch là gì. An ủi nhất, tôi còn có người bạn thân là Chị Phạm Thị Thảo. Ngày nào chúng tôi cũng rủ nhau đạp xe đến trường gần sở thú. Cùng đi chung đường có Chị Nhị, to lớn lực lượng. Nhị đạp xe rất nhanh, hai đứa tôi bám hai bên để Nhị kéo. Có lần té cả lũ mà vẫn không chừa.

Trong năm này, ngoài trừ cô Trinh dạy Nữ Công, còn toàn là nam giáo sư cả. Đó là một biến cố lớn lao, vì bà Hiệu Trưởng của trường tôi không muốn có nam giáo sư dạy ở trường nữ, sợ cảnh “Nam đáo nữ trường”, “Người dưng khác họ, chẳng nọ thì kia”. Quả nhiên sự lo xa của bà đã thành sự thật! Một mối tình “thầy trò” đẹp nhất đã xẩy ra, làm đầu đề bàn tán của những nữ sinh thời đó…

Tôi còn nhớ Thày Hưng dạy Lý Hóa, dáng dấp ngượng ngập, ít tự nhiên trước mặt các nữ sinh. Thày Lữ Hồ với những giờ Triết lý buồn-tẻ, Thày Triết với những bài toán hắc búa…

Sau năm đệ Nhất, nhiều bạn tôi đã bỏ hàng ngũ lên xe hoa như Vân Thu, Thanh Hương, Trinh Thục…

Dù chưa “đến tuổi” lấy chồng, nhưng những nữ sinh TV ở tuổi đó đã được nhiều chàng trai theo đuổi. Nhiều “cây si” đã mọc dài bên bờ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Riêng tôi đã nhận được nhiều bài thơ của một chàng Chu Văn An, trong đó có một bài làm tôi “cảm nặng”:

“Ngày xưa Anh vẫn đặt tên em
Là đóa hồng tươi xinh nhất miền.”

Và chàng “tố” luôn:

“Bảo rằng hoa đẹp cho Anh ngắm
Làm dáng ra vào như bóng tiên!”

Vì mơ mộng, được ra vào nhà chàng như bóng tiên, nên tôi đã quyết định chấm dứt thời hoa gấm, để theo anh chàng Chu Văn An kia cùng tạo dựng cuộc sống mới. Tuổi hoa chấm dứt nhưng tình hoa vẫn vấn vương. Thỉng thoảng tôi lại gặp những bạn TV cũ. Thăm hỏi nhau, mỗi người một chức tước và có danh phận trong xã hội đàng hoàng. Nào giáo sư Mỹ Dương, Thanh Hải, nào bác sĩ Quỳnh Anh, luật sư Nguyễn Thị Quý,dược sĩ Điển, Kim Long…Ngoài chức vụ bản thân lại kèm thêm tước vị quan trọng của các đấng phu quân nữa chứ. Phu nhân nghị sĩ Phạm Nam Sách (Thúy Vân), phu nhân dân biểu Nguyễn Trọng Nho (Vân Bằng), phu nhân bác sĩ Nhượng (Ngọc Hoàn), phu nhân Đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt (Lan Hương) v.v…và vv…Để lo làm tròn những chức năng đó, những người bạn nữ sinh ngây thơ của tôi ngày xưa phải làm việc gấp bội, chả có thì giờ đùa giỡn như xưa. Thời hoa gấm chỉ còn là dĩ vãng…

Rồi biến cố 75 xảy tới. Dân TV tứ tán khắp nơi. Đến năm 82 lại “tìm đường đến nhau”. Chị Bội Tú đứng lên lập Hội quy tụ những cánh áo xanh trong ngày Đại Lễ Kỷ Niệm Hai Bà. Nhìn lại những người bạn sau mấy chục năm xa cách, dù thời gian có làm thay đổi nét mặt, nhưng mỗi người một dáng điệu riêng, không hề thay đổi. Tôi nhận ra ngay người đẹp Hòa Phong vẫn e lệ, khép nép với mái tóc buông lơi, Vân Thu vẫn nụ cười toe toét, Vân Bằng chững chạc, Thanh Hà kiêu sa, Hà Thanh dịu dàng…

Ngày nay, “dân” Trưng Vương vẫn là Trưng Vương cũ dù tước hiệu có đổi thay, nghề nghiệp có khác biệt. Nàng giáo sư cũ đã trở thành “Technician” mới, nàng Chánh sự vụ xưa đã thành “Social Worker” hay “Nurse”, “Business Woman”… Chức vụ của chồng cũng chỉ còn là chữ “Cựu”. Tuy nhiên nhiều báo chí cứ “quen đường cũ” khi tường trình về Hội Trưng Vương thường hay “tưởng về quá khứ” gọi cựu phu nhân này, cựu phu nhân nọ, khiến “dân” Trưng Vương rất nhột!

Riêng theo ý kiến của tôi, trừ chức vụ của chồng là đi “mượn”, không đáng kể, và cũng trừ khi tự vỗ ngực nhận mình là bà này, bà kia thì không nên. Còn như nếu báo chí có đăng đích thực chức vụ của các chị em, tôi cũng thấy vô cùng hãnh diện. Chẳng hạn như ngày nay Hội TV có rất nhiều nhân tài, nào là giáo sư Nghiêm Thị Hiếu, Dược sĩ Đỗ Kim Toàn, Dược sĩ Vũ Tuyết Yên, Bác sĩ Bùi Thị Lãm Thúy, Nha sĩ Ngọc Sương, Chánh án Như Nguyện, Nghệ sĩ Mai Khanh, Văn sĩ Bích Huyền, Văn sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung… Thử hỏi, tại sao mình không hãnh diện chứ, phải không các bạn? Sang đến đây, để đạt được những chức vụ này, các chị em TV đã phải đầu tắt mặt tối, vất vả thập phần hơn trước.

Cũng vì thế, mỗi khi nhớ tới lời thơ khen tặng của chàng ngày xưa, tôi lại cảm thấy có sự mỉa mai sao ấy, bèn trả lời:

“Mười năm Hồng đã hóa sen
Nhớ lời anh tặng mà em giật mình.
Bây giờ sen đã quá tinh,
Hỏi Hồng còn chỗ cho mình nữa chăng?”

Hoa gấm chưa thành hoa úa, nhưng cũng đã heo héo vì cuộc sống nhiều vất vả, cạnh tranh và máy móc.

Chính vì sự vất vả hiện tại, các chị em TV lại muốn tìm về với nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, nên Hội TV càng ngày càng mạnh. Ngày Đại Lễ Hai Bà năm nào cũng được tổ chức trọng đại và thành công mỹ mãn. Con cháu Hai Bà tưng bừng tập dựợt văn nghệ như những ngày xưa thơ ngây! Trong những dịp này các chị em lại được gặp gỡ nhau, ôn lại cả một thời… hoa gấm!

Ngày xưa hoa gấm, và… “có hoa nào không tàn?” Nhưng nhìn những nụ hoa mới, chớm nở mỗi ngày một nhiều thay các bà chị, bà mẹ đảm đương công việc trong những màn văn nghệ trình diễn, trong những công tác ngày Đại Lễ Hai Bà, nối tiếp truyền thống Trưng Triệu, tôi biết rằng, “TÌNH TRƯNG VƯƠNG KHÔNG PHAI”. Tình Trưng Vương và tình yêu quê hương dân tộc, sẽ mãi mãi bất diệt dù ở thời gian hay không gian nào.

Ngọc Loan
11/94

Back