Lớp Việt ngữ của tôi
(Gởi các em của lớp Việt ngữ ở Hòa Lan yêu thương)


Bộ Giáo dục Hòa Lan đã đuổi cả đám giáo viên ngoại quốc dạy tiếng mẹ đẻ (OALT – Onderwijs in Allochtone Levende Talen) về vườn hơn một năm nay, nên chúng tôi rất rảnh rang. Mùa hè, mùa thu, mùa xuân đẹp trời thì tôi đi dạo và ra phố chơi. Chúng tôi được trợ cấp thất nghiệp (W.W.) vài ba năm để tìm việc mới. Nhưng lúc này khó tìm được việc cho lớp người ở tuổi trên dưới 50 và ngôn ngữ, bằng cấp chưa đủ xài ở đây như chúng tôi. Thật là một chuyện ngược đời: khi đi dạy người ta muốn mình nói tiếng Việt, để đến khi thất nghiệp thì lại đòi phải giỏi tiếng Hòa Lan. Vì thế, tôi đành ở nhà hưởng nhàn phút nào hay phút đó vậy. Thật ra lúc còn đi dạy xa hơn 200km tôi vẫn thấy nhàn dù mọi người vẫn cho là tôi cực nhọc đi xa. Buổi sáng 6 giờ tôi đã dậy dù mùa đông trời lạnh cóng, tối đen, tôi đã đón xe bus lúc 6 giờ 40 để ra ga xe lửa. Lấy chuyến xe 7 giờ rưỡi thì gần 10 giờ sáng tôi đã có mặt ở trường rồi. Ðến trường lũ bạn đồng nghiệp xúm lại rót cà phê mời cho tôi tỉnh ngủ (lúc còn trên xe lửa tôi chỉ ngủ) và nói chuyện ríu rít. Vui ơi là vui. Thế là tôi bắt tay vào việc sau 10 giờ rưỡi nghĩa là sau khi trẻ ra chơi (pauze), tôi đón từng nhóm, theo thứ tự vào lớp tôi (mỗi giờ một nhóm).
Ba năm đầu tôi còn ở lại trọ tại nhà cô bạn Hòa Lan tốt bụng làm cán sự cho người Việt ở đó. Chúng tôi thương nhau như chị em vì cùng hiểu nhau và hợp nhau vô cùng. Thế nhưng đến khi cô bạn này có bồ đến ngủ, thì tôi sửa soạn từ giã cô ấy để mỗi ngày đi đi về về cho yên thân, dù cô ấy không chịu, cố giữ tôi lại.
Năm đầu tiên nhận lớp Việt ngữ thật vui. Nhà chúng tôi ở gần trường và cha mẹ học trò hầu như tôi quen biết hết. Do đó chúng tôi làm việc với nhau rất vui vẻ. Nhóm trẻ tôi dạy mới rời Việt Nam vài năm nên chúng còn giỏi tiếng Việt lắm. Lúc đó chúng tôi đều chưa quen thuộc với ngôi trường mới ở đây, nên tất cả phòng ốc học cụ làm cả thầy lẫn trò đều vui thích cả. Tôi dạy ba trường, mỗi tuần một trường có một ngày hay một buổi nên không có phòng riêng chính thức, tôi chỉ được mượn một phòng nào trống trong trường thôi. Dù vậy tôi đã thấy hài lòng và hạnh phúc vô cùng. Vì nhớ lại những năm còn dạy ở Việt Nam, từ trường trung học đến tiểu học, từ thành thị đến làng quê với bao cực nhọc, nghèo đói của quê nhà làm tôi bồi hồi nhớ lũ học trò nghèo và nhớ mái trường dột nát những ngày mưa xập xình, những ngày nắng chói nung người. Tôi muốn khóc khi nghe thấy các bạn đồng nghiệp Hòa Lan nói chuyện râm ran, vui cười rộn rã trong phòng trong giờ nghỉ, mà nhớ tiếng cười đùa chọc ghẹo của lũ giáo viên chúng tôi lúc còn ở quê nhà. Tôi đã may mắn hơn họ là tôi được trở lại nghề dạy ở đây, ở một môi trường tự do, văn minh làm tôi sung sướng mà thương các bạn đồng nghiệp và các học trò còn ở lại đó.
Trở lại lớp học, nhóm trẻ đầu tiên tôi dậy rất ngoan và học giỏi, cả tiếng Hòa Lan cũng vậy – chúng rất thương và thân mật với cô giáo hơn là trẻ Hòa Lan – chúng thích đến lớp tôi và muốn ở lại luôn, tôi phải nhắc đến giờ trở về lớp Hòa Lan của chúng nhất là đám con gái, chúng tin tưởng tôi như mẹ chúng ở nhà (vì có khi chúng quên gọi tôi là má làm tôi bật cười) và có những chuyện riêng mà chúng không hề dám kể cho mẹ chúng nghe vì tôi hiểu tâm tư của những trẻ Việt Nam. Ở đây, mà chịu sự giáo dục cứng nhắc theo truyền thống cũ ở trong nước, điều đó làm trẻ khổ sở vô cùng. Ðó là thập niên đầu mới ở đây. Sau đó, đến thập niên kế thì lũ trẻ Việt Nam được cưng chìu quá, chúng khác hơn nhóm đàn anh chị của chúng ngày mới thành lập lớp.
Dạy lớp Việt ngữ chúng tôi rất phấn khởi. Tôi tổ chức cho lũ trẻ chơi Tết Trung thu. Tôi nhờ nhà tôi soạn giùm tôi vở kịch Chú Cuội để đám trẻ tập dượt trình diễn cho đêm Trung thu. Rồi có mục thi lồng đèn đẹp nhất được giải thưởng. Các học trò Việt Nam lúc đó đã lớn (14, 15 tuổi nhờ khai sụt tuổi nên còn học với tôi) nên chúng biết vẽ tranh làm phông cho sân khấu thật đẹp. Bức tranh rất to, sau này cô bạn cán sự đem về cất vì đẹp quá, bỏ uổng. Vở kịch Chú Cuội do con Diễm và thằng Dũng đóng vai chính còn vài đứa khác đóng vai phụ. Chúng đóng rất hay. Ðêm đó có phóng viên báo tỉnh nhà đến chụp ảnh đăng báo làm bác Ba Trưởng lão của xóm Việt Nam ở đó sướng phổng mũi, với mấy lời khen ngợi nhóm Việt Nam ở miền Bắc.


Ðến năm sau theo đà tôi lại tổ chức Trung Thu lớn hơn, có thêm phụ cấp nhờ cán sự xã hội cùng tổ chức thì chuyện tranh giành giải thưởng lồng đèn không vui xảy ra. Tôi chán nản bỏ luôn không tham gia nữa, mà tổ chức trong lớp cho trẻ tự làm lồng đèn chơi thôi. Tết trẻ con hãy để chúng vui chơi vô tư với nhau như ngày xưa lúc còn đi học, tôi cũng tổ chức góp tiền các em tôi chơi tết Trung thu mỗi năm thật vui. Tôi đã theo nghiệp với trẻ từ đó.
Lũ học trò đầu tiên rất giỏi về chính tả vì chúng biết đánh vần còn lớp trẻ trong thập niên sau này tôi dạy chính tả rất cực vì chúng không thể nào quen được lối đánh vần Việt Nam để viết chính tả dễ dàng được, nên chúng rất sợ viết chính tả, mặc dù tôi đã chuẩn bị rất kỹ. Có một lần đang viết chính tả bỗng thằng Xuân Tây quăng viết, gọi tôi là ‘bà quỷ’ vì nó không viết giỏi bằng mấy đứa kia. Tôi ngạc nhiên đớ người khi thấy nó hỗn như vậy, nhưng sau đó tôi hiểu nó, cho nó về lớp Hòa Lan lại và cho ba má nó hay, ông bà sau đó tới trường xin lỗi tôi và xin cho nó học lại. Tôi đồng ý nhưng tạm ngưng lớp tiếng Việt của nó một tháng, để nó ‘tỉnh’ người lại. Sau đó mười mấy năm tình cờ đến trường dạy, tôi lên xe bus gặp thằng Xuân Tây cũng đẩy xe con nó đi cùng, tôi mới biết nó đã có gia đình sớm và ly dị nên phải thỉnh thoảng giữ con, học hành dang dở cả. Thấy nó buồn tôi biết nói gì để an ủi nó. Mỗi người đã tự chọn cho mình một cuộc đời riêng, nếu không nói là nghiệp như nhà Phật đã dạy.
Thằng Xuân Tây như vậy vẫn còn hiền hơn thằng em kế nó. Eo ơi, anh nầy thì phá làng không nể ai. Nhất là vô lớp tôi, nó được học chung với mấy đứa con gái xinh xinh, nên nổi nghề trêu ghẹo suốt buổi, làm tôi điên đầu. Ðã vậy thằng Xuân Nghiên còn rủ thêm hai đứa theo phá nhưng hai đứa này ngoan, chỉ thỉnh thoảng hùa theo mà thôi. Tôi phải dùng phương pháp lấy độc trị độc để dẹp con ‘ngựa chứng sân trường’ này, vì những lời dỗ dành ngọt ngào hay phạt, đuổi ra hành lang lớp, đối với nó cũng vô ích. Tôi tuyên bố với lũ trẻ là từ nay giao phần giữ trật tự lớp cho thằng Xuân Nghiên trong những lúc tôi vắng mặt. Cả lũ học trò đều ngạc nhiên, nhưng cuối cùng thì tôi thành công, vì từ đó anh này ngoan không ngờ. Anh chàng cảm thấy oai trước đám con gái suốt ngày chỉ ham nói chuyện. Hễ đứa nào nói chuyện làm ồn lớp là bị nó ghi tên để tôi phạt, cho điểm hạnh kiểm xấu. Trong lớp có con Thủy rất đẹp mới mười một tuổi, nhưng nó đã đẹp duyên dáng vô cùng. Nó lại biết ăn diện làm dáng đánh son, kẻ mắt nên càng làm mấy đứa con trai chú ý chọc ghẹo hơn. Trong giờ học nó và Xuân Nghiên cứ nói qua nói lại nên tôi rầy phạt cả hai. Vậy mà con Thủy buốn giận vì thấy tôi không binh nó, về mách mẹ sai trái thế nào mà mẹ nó đùng đùng nổi giận, từ xa tôi đang đứng trong lớp mà đã nghe tiếng bà gào thét từ ngoài đường lộ. Tôi mời bà vô trường giải thích rõ ràng trước đám học trò nên bà hết giận ngay và vội xin lỗi tôi một cách vui vẻ. Rồi sau đó cũng có trường hợp gần như vậy, nhưng con bé này lại hay lén cô giáo đem học cụ về nhà chơi mà đồ này không thuộc lớp tôi, mà là của nhóm người già đến giải trí vào buổi tối hay cuối tuần tại trường. Nó lấy nhiều lần, nên tôi không cho, nó cũng giận về đặt điều khiến mẹ nó cũng binh nó đến trường tìm tôi. Bà ta không gây la, mà lại căm ghét tôi vì bà không chấp nhận lỗi con mình. Tôi không màng giải thích, chỉ nói chờ thời gian trả lời. Sau đó con Nguyệt nghỉ học lớp tôi, nhưng các em nó thì lại lần lượt vào lớp tôi đều đặn cho đến đứa út. Thương con, tâm lý các bà mẹ đều giống nhau nhưng cách hành xử thì tùy trình độ và tâm tánh từng người. Sai lầm nhiều nhất là các phụ huynh tuổi còn trẻ, chưa đủ kinh nghiệm nuôi con. Chúng tôi thường va chạm với những trường hợp còn đáng buồn hơn nữa. Tuy nghề giáo có linh động vui đùa với trẻ con và tình thân thương với chúng chan hòa êm đềm bên nhau, nhưng khi có vấn đề ‘ngựa chứng sân trường’ này thì lũ bạn đồng nghiệp Hòa Lan của tôi còn khổ tâm nhiều nữa. Vài giáo viên lớp mẫu giáo hay nhóm 7, 8 bị căng thẳng thần kinh, phải nghỉ ở nhà dưỡng bịnh cả năm mới trở lại trường được. Mỗi năm Tết Việt Nam đến tôi đều tổ chức cho trẻ chơi rất linh đình vì tài chánh đưọc Phòng Giáo Dục phụ giúp. Tôi dắt chúng đi siêu thị tự chọn mua sắm các món về lớp tôi và mấy đứa lớn chiên, nấu bày tiệc thật nhộn nhịp làm cả trường xúm lại thòm thèm. Tôi mời tất cả giáo viên Hòa Lan cùng chung vui, và sau này mấy đứa ra trường rồi cũng được về chơi chung Tết với lũ đàn em, rất ấm cúng. Lì xì cho chúng không bằng cho chúng một ngày vui như vậy. Nhưng rồi cũng đến thời lớp Việt ngữ ít dần. Theo hoàn cảnh chung, tất cả các trường đều vắng bớt học sinh. Trường từ từ thu nhỏ lại và sát nhập vào những trường lớn ở gần đó (chỉ thay tên trường, và hiệu trưởng bị xuống chức), nhưng nhờ vậy tôi mới được một phòng hoàn toàn riêng cho chúng tôi. Lũ trẻ mừng lắm, chúng tha hồ trang hoàng và coi chừng đứa nào trong trường vô phá, vì thỉnh thoảng họ cũng mượn lớp để tổ chức những khi có lễ hội. Ðám trẻ những năm sau cùng này hoàn toàn khác đám trẻ trước và đám đầu tiên, vì mẹ chúng phần nhiều được ‘bốc’ thẳng từ trong nước qua, nên chúng ít chịu học tiếng Việt vì được cha mẹ nuông chiều quá đáng. Có một lần đến giờ tôi dạy mà con Mỹ không chịu vào lớp, nó cứ đứng ở hành lang lớp, im như pho tượng. Cả đám trẻ chạy vô mét tôi. Tôi ra thị sát tình hình thì đúng y như vậy. Mỹ học lớp tôi hơn một năm rồi, nó rất thông minh, tuy mới vào lớp mẫu giáo mà bài tập nào tôi đưa nó làm đều giỏi và rất nhanh. Con bé rất đẹp, mới 5 tuổi mà ai cũng công nhận nó đẹp không thua trẻ Hòa Lan. Nó lại rất ngoan, nhưng bỗng dưng nó đổ lì như vậy, tôi và cả đám trẻ đều ngạc nhiên, dỗ mãi nó cũng không nhúc nhích. Cuối cùng tôi đành để nó đứng im như vậy luôn để cho mẹ nó đến đón, thì nó òa lên khóc om xòm. Cô giáo Hòa Lan lớp Mỹ cũng chịu thua luôn, vì hôm đó nó cũng không có vấn đề gì ở lớp cô ấy cả. Từ đó tôi cho nó nghỉ một năm của mẫu giáo 2 và đến nhóm 3 thì nó vô lớp tôi học lại rất ngoan và rất giỏi. Ðến ngày tôi nghỉ dạy từ giã bọn trẻ thì chị em của Mỹ là học trò giỏi và ngoan nhất của tôi. Còn mấy thằng bé kia thì chúng học tiếng Việt vì ba mẹ chúng bắt học mà thôi.
Ðến đây là thời lớp Việt ngữ bị cáo chung rồi. Không riêng gì lớp tiếng Việt mà các bạn đồng nghiệp O.A.L.T. các nước khác cũng tâm sự với tôi như vậy. Lớp trẻ mới sau này cha mẹ đã xa rời quê hương quá lâu, chúng không cần nói, học tiếng mẹ đẻ bằng chính tiếng Hòa Lan bản xứ. Vì thế, bốn năm sau này Bộ Giáo dục đổi tên chưong trình, từ OETC (Onderwijs in Eigen Taal en Cultuur) thành OALT (Onderwijs in Allochtone Levende Talen). Thay vì được dạy một phần trong giờ học, nay Bộ bắt buộc chúng tôi phải dạy hoàn toàn ngoài giờ học tiếng Hòa Lan, nghĩa là tôi phải dạy luôn suốt ngày thứ bảy. Ðám trẻ càng lười đi học hơn nữa. Tuy nhiên hai năm đầu dạy ngoài giờ đó nhờ đám đàn anh chị thứ bảy trở về lại trường cũ thăm tôi và muốn học tiếp nên cả lũ nhóc kia mới thích học chung ngày thứ bảy. Một phần vì sau giờ học những đứa lớn chơi đùa trong phòng thể dục, dạy mấy đứa nhóc chơi theo. Lớp tiếng Việt thứ bảy của tôi duy trì được vài năm cho đến năm cuối cùng thì chỉ còn hai, ba đứa ở rất xa chịu khó học thôi. Hỏi ra thì có rất nhiều tỉnh, các lớp Việt ngữ cũng không dạy được ngày thứ bảy vì trẻ Việt Nam không quen đi học thứ bảy, chúng chỉ quen đi tới trường các ngày trong tuần, khác với trẻ Trung Hoa ngày thứ bảy chúng đi học rất đông ở lớp Hoa ngữ ngoài phố.
Bất cứ phong trào nào rồi cũng từ thịnh đến suy. Tôi đã chuẩn bị tinh thần từ lâu nên không buồn hay khủng hoảng như nhiều người lâm vào tình trạng mất việc. Lớp Việt ngữ có rất nhiều kỷ niệm êm đềm, nhất là ngôi trường đó đã cho tôi một tình thân với mọi người suốt 18 năm dài. Họ rất tử tế, thương tôi và lũ trẻ Việt Nam: những người tị nạn bỏ nước ra đi từ ngày đầu họ gặp chúng tôi sau vài năm ở Hòa Lan mà còn bơ vơ, ngơ ngác, khi đến ngày tôi thôi việc, ông hiệu trưởng còn nhắc lại thật vui.
Nếu viết về lớp học Việt ngữ thì tôi sẽ còn viết hoài chưa bao giờ hết, nhưng đã lâu không cầm bút lại nên văn chương chữ nghĩa cũng bay bổng mất rồi. Hơn nữa tôi không muốn khơi lại kỷ niệm, tôi cứ xem như không có gì hiện hữu cả. Tất cả là trống không, cũng như tôi đã viết rồi, mà xem như tôi không viết gì cả.

Gia Bình Vân Nga
(T.V. ngày cũ)

Back