Irvine năm 2001
Ngày Xưa Thân-ái

Các bạn thân-mến,
Ngày xưa đi học nghe thầy cô giải-thích thời-gian trôi nhanh như ngựa chạy, như tên bay,hay như gió thổi, như chiêm-bao… sao mà mơ hồ và có lẽ chẳng đúng với thực-tế chút nào, vì lúc đó tôi mới còn trong tuổi dưới đôi mươi, nói theo bây giờ là tuổi “Teen”. Với cái tuổi này ở thời của chúng tôi cha mẹ còn quyền kiểm-soát rất nhiều, nào về tư-tưởng, học-hành, cách ăn mặc, cho đến lối giao-thiệp với bè-bạn, vậy nên rất mong thời-gian qua mau cho sự kiểm-soát được nới lỏng đôi chút, nhưng sao ngày giờ đi chậm ơi là chậm.
Bây giờ tuổi đã đi vào một ý nghĩa của câu ca dao :
Năm mươi thuộc họ nhà ma,
Sáu mươi chẳng chết cũng đưa ra ngoài đồng.

Theo Y-học những người hay nhớ và nghĩ về dĩ-vãng là đã bước vào tuổi già, còn tôi hiểu là ở tuổi này không còn gì để cho tương-lai nữa nên dĩ-vãng mới là ngà-ngọc, yêu-quý. Thực ra người đời rất khó hiểu; những gì mình có trong tầm tay thì không thích mà chỉ ao-ước cái chưa tới, và bây giờ lại luyến-tiếc những việc đã qua.

Thưa các bạn, thôi không lạm bàn về việc trên nữa mà tôi xin kể cho các bạn nghe những sự việc đã xẩy ra bốn, năm chục năm về trước, tôi tạm đặt tên là: Ngày Xưa Thân-ái.

Tôi còn nhớ lại những chuyện của ngày xưa lúc vào khoảng 6, 7 tuổi. Khi đó gia-đình tôi còn ở quê, một làng nhỏ bé của tỉnh Thái-Bình (Kim-Sơn, Tiền-Hải nơi khai-phá của cụ Nguyễn-công-Trứ). Làng tôi tuy nhỏ bé nhưng quân-dân có tinh-thần chống Pháp rất hăng, vì thế làng bị tàn-phá rất nhiều, trường sở không còn nên việc học bị gián-đoạn, khi học ở Chùa, khi tại Đình. Trường tiểu-học Trình-Phố xây rất đẹp gồm hai dẫy nhà tuy một tầng nhưng rất bề thế, cạnh đó là Đình làng gồm một nhà Văn-chỉ, trước sân có đặt nhiều tượng người (chắc là những người đỗ-đạt trong làng) voi và ngựa, một căn nhà lớn chắc là nơi hội-họp của dân làng, sau nay trường mượn làm lớp học.
Vỡ lòng cho tôi là mẹ, những trưa hè ngồi bên án-thư trong phòng thờ bà dạy tôi cả chữ Việt lẫn chữ Pháp. Vực nghé (trâu nhỏ) thật khó, với bao lời dỗ dành dịu ngọt, rồi sau tiếng roi mây quất đen-đét xuống bàn cho bớt cơn buồn ngủ và chán nản (U ơi học để làm chi? hễ sờ đến sách là y như buồn).

Lớp năm (lớp 1) tôi học thầy giáo Châu, một ông thầy cẩn thận và nguyên tắc từ cách ăn mặc và lối sống. Tôi không nhớ rõ vào năm học lớp mấy tôi và các bạn như Hát, Mạc, mấy đứa bạn không nhớ tên ra sau trường chạy chơi trên các bờ ruộng. Phần lớn ruộng quanh trường đều trồng mầu (rau đậu khoai sắn hay bông vải) ruộng mà chúng tôi ưa thích nhất là ruộng bông vải những đọt bông non trông đẹp ăn lại ngon, như một món ăn chơi khi đi học nên hầu như ngày nào chúng tôi cũng kéo nhau ra ruộng bẻ ăn. Nào có biết làm như thế là phá hoại mùa màng của người ta, chủ ruộng bực mình lắm nên rình bắt được cả lũ mang vào mách thầy Châu tôi chắc là bị phạt nặng mà ngày nay không nhớ rõ hình phạt ra sao nhưng cũng xin ghi nhớ là một kỷ niệm đầu đời của thời học-sinh.

Cô giáo lớp 3 là bà giáo Huyến, vào giờ sinh hoạt bà hay dạy múa hát bà thường than là tôi múa không dẻo chân tay không uyển-chuyển, khi chân cần co ra phía sau, bà thấy vị trí chân hầu như không đổi, lấy tay đập vào thì chân đã co rồi nhưng vì vải quần cứng nên bà không thấy. Thời kỳ kháng-chiến hàng hóa, vải vóc rất hiếm và đắt nên mẹ tôi mặc dầu xuất thân nơi thành-thị cũng phải hòa-nhập và bôn-ba, vải may quần áo là do nhà trồng bông, mẹ tôi kéo thành sợi, dệt và tự bà nhuộm bằng củ nâu nên vải cứng và thô.

Cô giáo dạy lớp nhì là cô Vỵ, thầy Truật, thầy hay ăn trầu nên tôi và bà cô họ Bùi-hồng-Tú hay lượm những trai cau non rụng mang tặng thầy vì thế mà tôi và cô tôi được giữ chức trưởng ban quét lớp, đi học mang chổi nhiều hơn sách vở. Mẹ tôi vất vả với công việc nhà chỉ mong con mau về trông em, vậy nên việc học cũng chẳng khá gì.

Các bạn học ở quê tôi chỉ liên lạc với chị Hát, do Bố tôi về thăm quê-hương nối nhịp cầu.
Bố tôi là ông giáo và là Hiệu trưởng của trường nhưng phải lo mưu-sinh cho gia-đình nên cũng phó-mặc, kịp đến khi gia đình tôi rời bỏ làng ra Hà-Nội lúc đó tôi đã 12 tuổi mà làm tính nhân chia vẫn còn khó khăn. Cuộc sống tạm-ổn Bố tôi mới dốc lòng kèm để tôi theo nổi chương-trình lớp nhì.

Tôi còn nhớ trường sở mà con bé theo học là trường tiểu-học Sinh-Từ (trường tọa-lạc ngay phố Sinh-từ và phía bên kia trường là phố Hàng Đẫy, gần Quốc-Tử-Giám). Nơi đây tôi gặp các bạn mới của Thủ-Đô Ngàn Năm Văn-vật, các bạn đó vừa giỏi vừa lanh-lẹ nên tôi khớp và sợ quá. Ngay việc chép bài do cô giáo đọc tôi cũng không viết kịp.
Cô giáo của tôi lúc bấy giờ là cô Nguyễn-Liên-Dung, cô thật dịu-dàng đã làm cho tôi giảm dần lo sợ, một mặt ở nhà tôi được Bố trang-bị gấp-rút nên vài tháng sau là con bé đã hòa-nhập được với các bạn.
Lớp nhất tôi theo không mấy vất-vả như trước và bà giáo của tôi là bà Nguyễn-thị-Thơm; bà là bạn của Bố tôi. Bà nổi tiếng là người dậy rất giỏi và dữ đòn (Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn). Có thể vì bà và Bố tôi mà một con bé nhà quê đã bước được vào trường nữ-trung-học Trưng-Vương một cách dễ-dàng mà lúc trước không dám mơ ước. Xin muôn vàn cám ơn Bố Mẹ, cám ơn cô Liên-Dung và bà giáo Nguyễn-thị-Thơm.

Trường trung-học Trưng-Vương là trường nữ-trung-học công-lập độc-nhất tại Hà-Nội; ngôi trường tọa-lạc ngay trên đường mang tên hai vị nữ-anh-hùng dân-tộc: đường Hai Bà Trưng. Chung quanh trường là khu phố Tây hay những nhà giầu, nên nhà cửa to và đẹp lắm.
Ngôi trường gồm một tòa nhà lớn 2 tầng ở phía trước: tầng dưới dùng làm văn-phòng của hiệu-trưởng, giám-học, tổng-giám-thị và nhân-viên. Một căn trệt nối với tòa nhà lớn thành hình chữ L, tất cả dùng cho lớp học. Căn nhà phụ-thuộc cho gia-đình bác tùy-phái, phía sau có một cổng thông sang trường là nhà của bà hiệu-trưởng. Giữa sân trường là một cây bàng lớn rợp bóng mát về mùa hè; quả bàng chín vàng, mùi thơm, ăn ngon, hột có nhân rất bùi, tất cả đã là những thứ ăn chơi của các cô học trò nhỏ.
Chúng tôi là lính mới học lớp chót của trường. Khác với tiểu-học các nữ-sinh phải mặc áo dài đồng phục: ngày thường áo dài trắng, mỗi ngày đầu tháng hay ngày lễ trường tham-gia với các trường bạn thì mặc áo dài màu lam. Vì vừa rời khỏi tiểu-học nên vẫn là những cô bé hồn nhiên, ngực còn lép kẹp chưa biết điệu bộ, trò chơi lớp dưới còn được tiếp-tục, nào nhẩy dây, lò cò, đánh chuyền, trốn tìm.

Lên trung-học chúng tôi được thụ-giáo nhiều thầy cô; mỗi người dậy một môn nên rất thích-thú do đó có những nhận xét, cảm tình tùy theo lối giảng dậy và các hành-xử của mỗi thầy cô.
Tuy mới vào còn bỡ-ngỡ nhưng vì đã mang tiếng là đứng thứ ba trong hàng ma quỷ nên những trò nghịch-ngợm được tụi tôi lôi ra trình làng: nào đặt tên cho giáo sư, trêu chọc thầy cô mỗi khi tìm ra được những điều mới lạ.
Bà Hiệu-trưởng là bà Tăng-xuân-An (khuê danh: Nguyễn-thị-Hợp) người cao lớn dáng uy nghi học trò sợ oai bà. (Bà mới mất ngày 27 tháng 2 năm 2001). Các môn-sinh cầu mong bà siêu-thăng tịnh-độ, sớm nhập cõi niết-bàn và phù hộ cho đám môn-sinh gặp nhiều may mắn trên đường đời. Hội cựu nữ-sinh Trưng-Vương miền Nam California đã làm lễ vinh danh và tưởng niệm bà vào ngày 11 tháng 3 tại chùa Liên-Hoa thành phố Garden Grove với rất đông các cựu nữ-sinh mặc đồng phục màu Lam, gồm các học-sinh thuộc nhiều niên khóa từ các chị học tại Hà-nội khi xưa đến các chị học tại miền Nam cho tới khi mất nước. Buổi lễ diễn ra thật long trọng, qua những lời cầu siêu của Thầy viện chủ, lời kể về sự nghiêp, công đức của bà hiệu trưởng do cựu sữ-sinh giáo sư Trưng Vương Nguyễn-thị-Đức vời ngôn-từ thật nồng nàn và cảm động, chị Mai-như-Mai hội trưởng đương nhiêm đọc tiểu-sử, buổi lễ kết thúc trong niềm thương tiếc của các cựu nữ-sinh Trưng-Vương.
Giáo sư dạy Pháp-văn là cô Tuất (khuê danh: Nguyễn-thị-An) mỗi khi vui cô cười thật tươi hai mắt híp lại nên có biệt danh là cô Tuất (híp); cô dậy rất tận-tâm và chúng tôi thương mến cô.
Cô Lan dậy Anh-văn có thân-hình bụ-bẫm nên được gọi là cô Lan (béo), cô lúc nào cũng vui vẻ luôn có nụ cười trên môi.
Tôi không nhớ tên thầy dậy Hán-văn nhưng giờ thầy rất vui. Có lẽ thầy là ông đồ nên khi đi dạy học thầy mặc áo dài và lũ chúng tôi được thầy gọi là Thị Mẹt. Giờ thầy chúng tôi rất chăm xóa bảng vì một nét phấn nào còn sót lại thì lũ dốt-nát chúng tôi lại tưởng nét của chữ Hán.
Thầy Bốn là thầy dậy vẽ; thầy cũng đẫy-đà như cô Lan của chúng tôi. Niên học 1953 có 5 lớp đệ thất và lớp tôi học là 7b4 (bê bối); chúng tôi chỉ được thầy cho vẽ có vài thứ như cái mũ của thầy, cái giỏ rác, cái ghế v..v… mà thầy chẳng dậy nguyên-tắc vẽ ra làm sao nên chúng tôi cứ cọp-dê của nhau; giờ của thầy cũng rất vui và lớp ồn-ào như cái chợ.
Thấy thầy Bốn và cô Lan cũng đẫy đà như nhau nên cứ tới giờ cô Lan và thầy Bốn là trên bảng có vẽ 4 bông hoa Lan. Không biết thầy và cô của tôi có biết lũ học trò quỷ-quái trêu chọc không? Tôi thú-nhận là nghịch nhưng cũng bị xúi giục của cả lớp. Một lần súyt bị phạt vì thầy có việc phải đi ra ngoài; tụi bạn bàn dấu kính của thầy và tôi là người được chỉ-định vì dại khờ nghe lời xúi dại của lũ bạn quỷ nên khi thầy về tìm không thấy, thầy tức-giận lắm, cả lớp phải mà-cả nên tôi mới thoát tội.
Cô Tiến dậy Sử, cô trẻ nhưng nghiêm-nghị. Môn Sử Thế-giới có nhiều mới lạ nên giờ cô rất lý thú.
Cô Từ dậy Toán; cô trẻ-trung và vui-vẻ; chúng tôi cũng rất mến cô.
Cô Hạnh phụ trách môn Lý-Hóa; có thể vì việc gia-đình nên cô vui buồn thất-thường nhưng cô giảng dậy tận tâm.
Cô Mai dạy Việt-văn, hiền lành, dịu-dàng, thương mến cô nên chúng tôi thường đến nhà cô (ám quẻ).
Cô Vượng dậy Vạn-Vật, hòa-đồng với học-trò; chúng tôi rất mến cô nên việc tìm lá, hoa ép cho cuốn sách sưu-tầm về cây cỏ rất đầy đủ. Những công-lao: nào vào làng Láng, đền Voi Phục, chùa Trầm và hơn nữa là trèo vào vườn nhà người ta lấy trộm hoa làm sao cho đủ những thứ mà cô đòi hỏi.

Tôi còn nhớ sự nghịch phá đã làm cho tôi bị xé mất một vạt áo dài (Bố tôi, cụ cho là lười học); lý-do tôi bị đi phạt ngày Chủ nhật (công xi)--nguyên-nhân rất giản-dị là 4 đứa chúng tôi Nguyễn-thị-Tâm, Nguyễn-Giáng-Tuyết, Đinh-Diệu-Vinh đ ến trường sớm vào sân trường chơi đu dây. Khổ và xui cho tôi là khi bà hiệu-trưởng nghe tiếng ồn-ào mở cửa sau sang thì tôi còn đang ở trên trời không chối tội được trong khi lũ bạn tôi ở dưới đất đều chạy thoát…
Từ nhà tới trường bốn đứa rong ruổi trên những con ngựa sắt, nhưng qua khỏi ngã năm Cửa-Nam là đường Hai-bà-Trưng thẳng tắp tới trường. Bố tôi lo sợ cho sự an toàn của con nên thường nhắc nhở khi đến ngã-tư phải xuống dắt xe; Cụ nào có biết chúng tôi đã thi nhau với tốc-độ rồi có khi không cầm lái, hai tay khoanh trước ngực xem ai đi được lâu.
Thưa quý-vị, ở Việt-Nam các học-sinh nếu muốn thêm điểm cho các kỳ thi như Trung-học hay Tú-tài I và II có thể dùng điểm thi thể-dục nếu đạt điểm cao trên điểm đã định. Có thể vì tính hiếu-động của tuổi trẻ mặc dầu không cần-thiết của năm Đệ-Thất nhưng bốn đứa chúng tôi vẫn ghi danh đi thi thể-dục, để chuẩn bị hễ có giờ rảnh là hẹn nhau ở sân Septo phố Hàng-đẫy để tập nào chạy xa, nhẩy cao, nhẩy dài, leo dây v..vv

Thời-gian học ở Hà-Nội có một năm. Đất nước bị chia đôi; chúng tôi phải rời bỏ ngôi trường thân yêu vào Nam. Thời-gian quá ngắn; chúng tôi chưa có nhiều kỷ-niệm với ngôi trường nguyên-thủy nhưng vẫn nhớ thương vời-vợi vì là kỷ-niệm của thời thơ-ấu.

Năm 1954 trường Trưng-Vương mới di-cư, không có trường sở nên phải học nhờ cơ-sở của trường nữ trung-học Gia-Long. Nữ-sinh Gia-Long học buổi sáng còn chúng tôi học buổi chiều. Ngôi trường to, đẹp, lúc đầu chưa quen nên cũng có nhiều lục-đục giữa học-sinh hai trường; sau một thời-gian chúng tôi lại là bạn của nhau qua thư từ trong ngăn bàn, rồi gặp nhau thân-thiết. Chúng tôi học tại đó 3 năm là những năm Đệ-Lục, Đệ-Ngũ và Đệ-Tứ. Sau năm Đệ-Ngũ thì ban giám-đốc trường phân chia và xếp lớp lại: mười người đứng đầu mỗi lớp được vào lớp Tứ B1, rồi Tứ 2, Tứ 3, Tứ 4 và sau cùng là Tứ 5. Phân chia như vậy cũng có điều hay và dở, hay là cả lớp sức học đều nhau làm cho mọi người phải cố gắng nhiều; kết-quả sau kỳ thi Trung-học Đệ-Nhất-Cấp thì lớp B1 đỗ gần hết và B5 chỉ qua được vài người; một cái hay nữa là lũ chúng tôi cùng một niên-khóa quen nhau nghĩa là có thêm nhiều bạn.
Thời gian của Đệ-Nhất-Cấp tôi có cô bạn rất thân Lê-thị-Uẩn-Ngọc; thân vì chị ở gần nhà, chị lại không biết đi xe nên tôi cứ phải mang cái thân gầy còm ra mà kéo (bây giờ là Phán-cảnh). Để đáp lại chị mua quà cho tôi ăn luôn mặc dầu nhà chị rất thanh-bạch, và chị thường gọi tôi là chú Hai-Dê, khổ vì cái tên cúng Cơm tôi về nhà hỏi mẹ thì cụ bảo Mỹ-Dương là cây Dương liễu đẹp (để tôi tin cụ còn nói trong chữ Dương có bộ mộc bên cạnh). Quả thực cái tên Dương rất ít trong đám con gái, tôi nhớ là năm đi thi trung học chỉ có một chị tên là Minh-Dương sau này có thể chị đi lấy chồng nên mấy kỳ thi tú-tài 1 và 2 chỉ có mình tôi ngồi với đám nam thí-sinh.

Vào Nam gia đình tôi cư ngụ tại khu Nguyễn-tri-Phương (xưa là khu nhà nghèo bị hỏa hoạn sau chính phủ xây lại bán rẻ cho những người có nhà cháy, dân bắc-kỳ di-cư ít tiền mua lại và rủ nhau đến ở rất đông), bạn của bố tôi ở đó cũng nhiều các con là bạn của nhau. Tôi chơi thân với chị Vũ-thúy-Loan con của cụ Vũ-văn-Tịch, cũng vì sợ các con gặp tai nạn nên cụ Tịch thường dẫn đi học bằng đường trong ít xe. Để thêm hào hứng cho đoàn xe cụ đặt một trò chơi vui là hễ cụ bấm chuông thì chúng tôi từng đứa bấm theo làm thành một hồi chuông dài.
Tính hay ăn hàng đã là một bản năng của chúng tôi nên khi đi học thì ăn quà ở trường về tới gần nhà cũng chưa thôi, tôi, Thúy-Loan, Thu-Tâm còn cố ghé vào xe sinh-tố ăn đậu đỏ, uống đá nhận (món lạ ở trong Nam đối với dân Bắc). Thúy-Loan được cụ Tịch chiều nên có nhiều tự do hơn tôi, hồi đó chúng tôi mê Audrey thích xem phim do cô đóng như Romance Holiday, War and peace nhưng bố tôi không cho, cụ muốn kiểm soát xem phim có lành mạnh và hợp với tuổi chúng tôi không. Để được đi xem cụ Tịch đã nói với bố tôi là cụ dẫn đi nhưng thực ra hai đứa chúng tôi đi xem với nhau, bây giờ thì Thúy-Loan đã ra người thiên cổ nhưng chị rất linh thiêng, run rủi tôi có mặt vào ngày giỗ đầu chị nhân ngày thăm California, xin chị phù hộ cho gia-đình chị và đám bạn hữu.
Như đã nói ở trên bố rất thương tôi nhưng cụ sợ cho tiền sẽ rong chơi chẳng học, cụ thường kể có thiếu thốn, cực khổ mới chăm chỉ. Cụ cho tôi tiền phòng hờ những bất trắc như xửa xe hay chẳng may ngã vào hàng bánh tráng phải đền, khi tiêu phải có lý do chính đáng, nhưng các bạn ơi những chi tiêu của chúng mình làm sao mà giải thích như đi cine, ăn quà vặt hay chụp ảnh của chú phó nhòm Duy-Hy.

Những năm đệ lục, đệ ngũ là những năm còn lè phè chỉ cần học vừa phải nghĩa là không đội quá nhiều người hay đèn đỏ; thứ bậc trên 20 là về nhà ít bị tra hỏi vì thế chúng tôi lợi dụng tối đa nào múa hát, nào bích báo. Trần thị Trâm cùng lớp tôi, có biệt tài về ca múa không biết chị học ở đâu hay chị tự nghĩ ra nên gần đến ngày Tết, sửa soạn cho tiệc Tất-niên là lũ lười biếng, ham chơi chúng tôi được quyền xin giáo sư ra ngoài tập ca múa, kịch hay trang trí bích báo kịp cho ngày Tất niên. Tôi còn nhớ chị chọn một bài hát ngoại quốc bản Jambalaya và chúng tôi đóng vai mấy con mọi, thằng mọi, nhẩy theo điệu chị dạy thế mà sau cuộc biểu diễn tại trường, điệu múa mới lạ đó được trường gửi đi thi thố với các trường bạn tại rạp Thống-nhất. Ban múa Mọi chúng tôi gồm có Chúa mọi là Trần thị Trâm, mọi đực gồm có Tôi, Ngô Kim Nhụy, Lê thị Khuê, Phạm-thị-Thảo và một vài người nữa mà giờ này không nhớ tên, còn có các cô mọi cái thì toàn là người đẹp nào Diệu-Vinh, Trinh-Thục, Đạm-Cúc, Trần thị Tân, Nguyễn hữu-thị-thu-Thủy.Nhìn lại ảnh thật buồn cười vì là trường nữ nên các bà trong ban giám đốc không cho chúng tôi mặc đúng cách (hở chân, hở lưng, ngực, bụng) mặc dầu tôi đóng vai thằng mọi mà vẫn phải mặc quần dài chung quanh bụng quấn giấy bóng kính xanh đỏ làm váy, còn mấy cô mọi cũng mặc như thế nhưng váy dài tới mắt cá chân. Đám mọi đực tôi nhớ nhất là Ngô kim Nhụy, dân Nam-Kỳ (lọt vào đám Bắc-kỳ ăn cá rô cây, ông Trời trả bá hàm răng đen xì này?) cao ngòng, tai đeo tòng teng, răng thỏ song nó rất dễ thương mỗi khi có xích mích gì với đám học-sinh Gia-Long nó thường bênh tụi tôi nên đã được thâu làm đồ-đệ, nó đã bị hủ hóa thành dân Bắc-kỳ. Sao bao năm gặp lại được biết nó là con dâu của dân rau muống và Nhụy ăn nói chanh chua đanh đá đía mồm miệng không còn hiền lành như xưa (thật là ở bầu thì tròn ở ống thì dài, hay đi với Bụt mặc áo Cà sa, đi với ma mặc áo giấy), một tên mọi đực nữa, Phạm-thị-Thảo, người nhỏ bé loắt-choắt dáng dấp giống con trai nên tụi tôi thường gọi là Cậu, còn tôi như đã tả ở trên cũng không dịu dàng yểu điệu chút nào, khen thay cho con mắt nhìn và chọn nguời của chúa Mọi Trâm. Về đám mọi cái thì có Nguyễn-hữu-thị-thu-Thủy sao tên nó dài quá đọc mỏi cả mồm, đặc biệt có đôi gò-bồng đảo rất đầy đặn, bạn đó thường hay bắt nạt tôi bằng cách lôi cái nón lá của tôi ra làm bóng đá và la om-sòm: chúng mày ơi ra mà xem con Da-bà bầu (chả là bố tôi sợ ai lấy lộn nón nên đã viết địa chỉ mà nhà tôi ở cái phố có tên như trên nghĩa là cây đa bà-bầu, có thể tên như vài phố khác như Bà-hạt, bà Điểm v..v).
Sau này khi đi lấy chồng và người bạn đời của tôi bị lên vùng cao nguyên cũng đổ thừa là ngày xưa hay múa mọi (định mệnh).

Nhà trường mở lớp dạy võ do Thày Phạm-Lợi Đệ bát đẳng huyền đai về Nhu-đạo là đẳng cấp lớn nhất Việt-Nam hồi bấy giờ tôi muốn học (môn nhiệm ý), đã lén đi may võ phục và xin phép Bố, Bố tôi vui vẻ cho phép nhưng cụ nói con gái hãy hỏi ý kiến Mẹ. Mẹ tôi thuộc phái cổ nên nghe con gái học võ thì cụ từ chối một các quyết liệt tôi năn nỉ thế nào cũng không lay chuyển. Lý do cụ bác là con gái phải thùy-mỵ dịu dàng công dung ngôn hạnh sau này mới lấy được chồng chứ lại học võ ai nghe cũng chết khiếp. Thời thế đổi thay bên ngoài nhiều tệ trạng (bao kẻ mang bầu tâm sự phải lên Đà-Lạt trút), Bố tôi sợ có con gái như chứa bom nổ chậm, vì thế cụ huấn luyện tôi như mấy đứa em trai (Movie chỉ được xem phim của Disney sản xuất hay những phim Cowboy miền Viễn Tây). Sau này khi ch úng tôi đã đính hôn chàng mời tôi đi chơi và hỏi xem tôi thích xem cine loại nào thì tôi tự nhiên trả lời: Phim cowboys làm tụi em tôi rình nghe chế riễu mãi. Xin kể để quý vị thấy được hình dáng của tôi lúc đã 15 hay 16 tuổi: vì sợ tôi đi xe đạp mà đội nón gió thổi ụp xuống mặt sẽ gây tai nạn nên bố tôi bắt phải đội mũ qủa dưa (mũ thuộc-địa) khi nào có giờ tập thể dục phải mang giầy Bata ngay từ nhà, xe hư có thể dùng xe đạp đàn ông của Bố tôi, vậy nên tôi nói năng, đi đứng không giống mấy cô tiểu thư khuê các. Nhờ may và phúc ấm Tổ-Tiên, nên tôi cũng có người tới xỏ mũi (hú hồn).
Cô bạn tôi là Nguyễn-thị-Tâm tiếp tục học võ sau này cũng lên đai đen thế mà cô cũng có gia đình, tôi nghĩ ông nào lấy bạn tôi thì võ nghệ cũng phải có hạng hay ông gồng mình can đảm chịu đựng những khi bạn tôi thịnh nộ. Mấy chục năm không gặp tình cờ sang đây liên lạc được tôi cứ thắc mắc mong gặp lại để xem mặt ông rể Trưng Vương như thế nào gan có to lắm không? Được diện kiến thì thấy anh hiền khô và người nhỏ bé mảnh mai như một thư sinh, như vậy ý kiến của các cụ không đúng hẳn?

Tôi sinh trong một gia đình nhiều con trai, tôi là chị lớn bố tôi thương tôi nhiều (tôi nghĩ thế) nên mỗi khi mẹ dạy nữ công gia chính (cẩn thận và chăm chỉ, tôi không có) thường bị la rầy (đan sẵn cái bồ mà nghe chửi) nhưng bố vì thương nên đỡ cho bằng cách xin để cho tôi học, sau này có tiền sẽ thuê người, thế là tôi sổ toẹt về chữ công một trong tứ đức của phụ nữ. Ở trường để có bài nộp tôi thường đi xin những mẫu khâu mà bạn tôi (Kim-Dung, Lệ-Giên) không ưng ý thế mà có khi tôi lại hơn điểm người cho. Sau này chồng tôi nhờ tài khéo léo của vợ, tôi chỉ việc đưa cho thợ và đôi lúc chàng cằn nhằn, tôi còn cãi lý nếu muốn khéo thì chàng hãy lấy cô thợ may hay chị bếp. Sau khi lập gia đình được vài năm tôi làm cơm mời hai bên cha mẹ nhân ngày giỗ mẹ chồng, bố tôi vui sướng và hãnh diện giới thiệu với bố chồng tôi những món tôi học lóm của các bạn (hay ăn thì lăn vào bếp, chẳng ai khen cái nết hay làm) làm tôi quê quá. Đàn bà, con gái chuyện bếp-núc là lẽ thường nhưng riêng tôi cụ biết là không; vì khi xưa mẹ dạy đan, thêu, bánh trái nấu nướng tôi đều trốn.

Năm 1975 một cuộc vượt thoát tìm tự do sang đây với hai bàn tay trắng và 4 con thơ, để có thời giờ cho chồng học lại tôi đã xin làm cho một tiệm sửa quần áo. Khi nhìn lại những vinh nhục của cuộc đời tị-nạn buổi đầu chồng tôi pha trò cho thêm thi-vị:
Một người vụng về nữ-công thì bây giờ làm thợ may,
Một người hay nói thì bây giờ câm (mới qua Mỹ anh ngữ ăn đong)
Thưa quý vị tôi không khoe nhưng xin nhắc lại một câu mà cô Ninh cô giáo yêu quý của tôi khi sang chơi gặp lại đám học trò cũ, cô đã phát biểu: học trò Trưng-Vương là nhất nghĩa là cả Tứ-đức, Tam-tòng các chàng rể phải hãnh diện chứ bằng chứng là sau bao năm dâu bể, nổi trôi; cô thăm lại các học trò cũ ai cũng có gia đình tốt đẹp con cái thành tài.
Ba năm học nhờ, sĩ-số học-sinh gia-tăng; bộ Giáo-dục tìm cho trường một trụ-sở mới đó là một nhà thương của quân-đội Pháp trao trả nhưng trường chúng tôi chỉ được sử dụng 2/3, phần còn lại là những nha, sở của Bộ.
Trường mới của chúng tôi tọa-lạc ngay trước Thảo-Cầm-Viên, (Sở Thú) trên con đường Nguyễn-Bỉnh-Khiêm (một danh nhân đời nhà Mạc; cụ còn có biệt-danh là Trạng Trình, uyên-thâm Hán-học, thông hiểu Thiên-văn, Địa-lý, Tướng-số). Thật hãnh diện cho những cô nữ-sinh Trưng-Vương trường được mang tên hai vị nữ-anh-hùng dân-tộc còn được gần nhà học-sĩ uyên-bác. Nhưng Thảo-Cầm-Viên cũng là nơi gợi cho lũ học trò có chỗ rong chơi, mỗi khi có giờ trống hoặc thầy cô nghỉ bất thường lũ chúng tôi chạy ngay sang bên sở-thú để tìm về với thiên nhiên nào ngắm nhìn các con thú lạ nào tản bộ trên con đường đầy bóng mát hay leo trèo trên cây như lũ khỉ; nghĩ lại đời học-sinh tuy mệt mỏi với sách đèn nhưng là quãng đời đẹp nhất vì ở tuổi vô-tư, hồn nhiên và trong sáng.
Mỗi năm vào những ngày giỗ kỵ Hai Bà cũng là ngày Phụ-nữ, trường chúng tôi được vinh-dự tuyển hai học sinh đóng vai Hai Bà (bạn tôi Lệ-Hằng và cô em Mộng-Thúy) trong buổi lễ rước trang-trọng, còn tất cả học-sinh trong trường đứng gần khán-đài hát bài hiệu-đoàn-ca tức là bài Trưng-Nữ-Vương của nhạc-sĩ Thẩm Oánh (thưa quý-vị, giờ này đã lục-tuần mà tôi chưa hề thuộc trọn một bài hát nào ngoại trừ bài hiệu-đoàn-ca).
Chúng tôi sang trường mới khi lên lớp Đệ-Tam, một lớp gạch nối giữa đệ-tứ lớp phải thi bằng Trung-học và đệ-nhị thi bằng Tú-tài phần một. Học-sinh lớp này phải đỗ bằng Trung-học ít nhất là hàng Bình-thứ trở lên còn đỗ thường thì phải qua một kỳ thi tuyển nên các bạn cũ cũng rơi rụng ít nhiều. Một số tức quá đã đi tìm đường làm quan tắt; số khác chuyển sang học nghề, vì thế chúng tôi mất đi một số bạn cũ, đồng-thời lại có thêm nhiều bạn mới.
Khi trước trường Gia-Long là trường nữ Nam-kỳ và trường Trưng-Vương là trường nữ Bắc-kỳ nhưng sau vài năm thì Bắc Nam đề-huề không còn phân-biệt nữa.

Thưa các bạn, lớp Đệ-Tam là năm coi như được nghỉ xả hơi vì sau năm Đệ-Tứ học bở hơi tai còn năm Đệ-Nhị thì chưa đến nên chúng tôi trở lại nghề, nghịch-ngơm cho đời thêm vui và bây giờ mới có kỷ-niệm mà kể với quý vị. Chẳng chối cãi làm gì vì tụi học-trò con gái thường được gọi là tuổi ô-mai, tuổi chanh cốm nên hay ăn quà và lý-lắc; học-trò đã có sẵn vài đức tính của bẩy nghề phải không ạ?
Miền Nam trù-phú. Mùa hè ôi! Biết bao trái cây ngon, hấp-dẫn, ăn ở nhà, ngoài đường không đã mà ăn quà trong lớp nó mới ngon và thú vị. Tôi còn nhớ lúc học Tứ 2 tại trường sở cũ, các bạn nữ-sinh Gia-Long có quán bán hàng quà nên những món ăn đều là món tủ của học-trò: ổi, soài, mận, cóc được mang vào lớp.
Giờ ăn quà nhiều nhất là giờ của cô Lan (béo). Nửa giờ đầu cô chỉ bắt từng cặp hai đứa lên bàn cô đọc những câu đối-thoại sao cho giọng tự-nhiên và lưu-loát; những đứa khác cứ việc cúi đầu xuống mà ăn vụng. Cô dễ-dãi nên không ai bị phạt nhưng riêng bàn chúng tôi là bàn thứ ba gồm những tên sau đây mà cô Lan muốn khi cô vào lớp thì sáu đứa phải di tản tới sáu bàn khác: Tôi, Hoàng-Lệ-Giên, Nguyễn-Tân-Nguyên, Trần-Kim-Hân, Trịnh-Thúy-Nga, và Vũ-Thúy-Nga. Đến giờ này tôi vẫn chưa tìm được lý-do chính nhưng hình như vì cô bạn Lệ-Giên (bạn tôi đẹp lắm, da trắng, mắt to, đen và sâu; người yểu-điệu dịu-dàng) có tài pha trò và chọc cười bằng những những câu vọng-cổ cứ như rót vào tai, làm sao mà nín cười. Những năm đầu chưa phải mặc đồng-phục nên Trần-Kim-Hân thường mặc áo nâu, mầu áo này cũng đôi khi có tác-dụng là lá chắn cho Vũ Nga mỗi khi quên vở hay quên học bài.. Cô bạn Tân-Nguyên của tôi thích xem tiểu thuyết và báo nên ước nguyện sau nay muốn có một sạp bán sách báo để tha hồ đọc nhưng nghe nói sau khi lập gia đình chị cũng chỉ đóng vai một bà vợ và mẹ đảm đang mà thôi. Trịnh-Thúy-Nga có tang mẹ ngay trong năm đệ-tứ, nhưng chị rất can đảm và giỏi đã phụ với Bố chăm lo nuôi nấng các em nên người (em nhỏ nhất mới mấy tháng) và bây giờ với đàn con ngoan, có nghề nghiệp tốt. Một cô bạn nữa Phan-thị-Quỳnh-Giao, người này thật dễ thương luôn tươi cười và thường làm vừa lòng bạn bè, mọi chuyện dù khó khăn hay buồn vui nàng chỉ việc cười tít mắt là xong, sau này tôi lại cùng Giao học chung 3 năm trên Đại-học-Sư-Phạm, và nàng cũng làm cô dâu phụ trong đám cưới của chúng tôi.

Các thầy cô dạy chúng tôi từ khi di-cư vào Nam nghĩa là từ lớp Đệ-Lục đến khi tốt-nghiệp Tú-Tài gồm có các vị như sau:
Cô Nguyễn-thị-Hòa dậy Vạn-vật mấy năm Đệ-Nhất-Cấp. Cô thực đúng với tên--cô rất hiền-hòa nhưng nguyên-tắc; chúng tôi mến cô và cô đã bỏ trần-gian đi từ mấy năm nay (hình như năm 1991).
Cô Vũ-thị-Ninh dậy Địa-lý; cô nghiêm-nghị nhưng dịu-dàng, cô không đẹp lắm nhưng dáng sang-trọng chúng tôi thường bảo nhau là cô có nhiều nét giống nữ-Hoàng Elizabeth Đệ-Nhị. Lớp học đông (50) cô thường hỏi có ai muốn xung phong lên đọc bài thì được điểm cao lũ chúng tôi thực ra cũng chẳng chăm gì nhưng để được lòng cô nên mỗi đầu tháng ráng học để có một điểm. Cô được rất nhiều học-sinh mến. Năm 2000 do hội Cựu-nữ-sinh Trưng-Vương Houston bảo-lãnh sang Hoa-kỳ. Môn-đệ của cô ở khắp năm châu mời đón thù tiếp; tụi học-trò rất vui mừng được gặp lại cô. Như một giấc mơ thầy trò gặp lại nhau mừng mừng, tủi tủi vì cả thầy lẫn trò đều da mồi tóc bạc. Một điều vui là cô vẫn khỏe mạnh tuy cô có hơi già đi một tí nhưng so với đám học-trò thì cô còn tráng-kiện hơn nhiều. Cô ở chơi 6 tháng nhưng cô luôn chuyển-dịch, tiệc sáng, tiệc chiều có thể nói hầu hết những thành-phố lớn tại Hoa-Kỳ, Canada, và Âu-châu cô đều viếng thăm, thế mà không thấy than mệt-mỏi. Bái-phục, bái-phục.
Cô Hà-thị-Uyên giáo-sư dạy Toán là cô giáo trẻ, vui tính, rất chăm nhưng cũng có quy-luật, nghĩa là học ra học, chơi ra chơi; tôi tuy lười nhưng mê cô nên không dám làm biếng. Sau bao năm xa cách và quả đất tròn, sang đây thầy trò gặp lại nhau (Cô cho lại tôi bức ảnh chụp chung lúc tôi mê cô).
Cô Nguyễn-Xuân-Đào dạy Pháp-văn, cô cao, gầy lưng hơi còng, cô dạy hay nhưng khó hễ ai nói chuyện là bị ném phấn vào mồm.
Cô Bội-Hoàn dạy Pháp-văn, dịu dàng, xinh đẹp, học trò thương cô nên cô luôn giúp đỡ hội Cựu nữ-sinh Trưng-Vương trong những ngày tổ chức lễ giỗ Hai Bà tại Hải ngoại.
Cô Ngô-thị-Ngà dạy Toán cô tận-tâm, vui vẻ. Cô nói rất nhanh; tụi học-trò gọi cô là “Súng liên-thanh”.
Cô Đinh-thị-Nại dạy Việt-văn lớp đệ-ngũ, cô đẹp, nước da trắng, nhưng có đôi mắt thật buồn tôi còn nhớ nhất bài thơ Vương-Tường, Vương-Tường là tên một người cung nữ đẹp đời nhà Hán bị gửi đi cống Hồ. Sau khi xem phim Đại-hội-Trưng-Vương Houston cô Nại đã kể lại hoàn cảnh khi cô đi dạy học và những lý do buồn. Sau cơn mưa trời lại sáng, bây giờ cô lại trẻ đẹp vui-vẻ hơn đám học trò.
Cô Kỳ-Thu dạy Pháp-văn; người cô nhỏ bé; cô đẹp và rất diện. Giờ đây tôi chỉ còn nhớ câu chuyện của Alphonse Daudet và chú bé Bambam.
Cô Thuần người Huế dạy Lý-Hóa; cô cũng hiền và chăm.
Cô Nở người miền Nam; cô cũng dạy môn Hóa. Cô dạy hay nhưng chúng tôi hay nhại cô khi cô nói chữ “Dấm” làm cả lớp ồn-ào.
Cô Riệp và cô Phụng là hai cô chia nhau mặc áo đình-chiến.
Cô Lý dạy Việt-văn lớp Đệ-Tứ 2; cô rất vui tính nhưng nóng nẩy nên thưởng phạt bất-thường; chúng tôi thường ghép cô với thầy dạy Toán Kiều-quang-Đạo vì mỗi lần nói chuyện với thầy, cô rất vui. Nên khi đến giờ cô là có người lên bảng chép câu: Đạo Lý thánh-Hiền không biết cô có hiểu lối trêu chọc ngây thơ của đám học trò??

Năm đệ-tam là năm nghỉ xả hơi, nhóm chúng tôi Dung, Giang, Dương, Cương tuy nghịch nhưng cũng cùng nhau đua học vì thích cô giáo Vạn-vật là cô Gioãn mới ra trường còn rất trẻ đổi mới trong cách xưng hô: Chị.
Lại nói chuyện ăn quà mùa xoài với những trái trái soài tượng thật to được mang vào lớp dùng lưỡi dao cạo gọt thật mỏng ăn với mắm ruốc thơm phức, các bạn gọi xin ơi ới và sau cùng Dương-vân-Thu lãnh cái hột mà đến bây giờ chị vẫn còn phàn nàn.
Chúng tôi khi học đệ tam thì đã ở tuổi bẻ gẫy sừng trâu hay tuổi mà khi xưa các cụ gọi là tuổi cập-kê, tuổi dậy-thì, nghĩa là cũng biết làm dáng, ăn diện, lòng cũng rộn ràng vui-mừng khi có kẻ để ý, vì thế ngoài cửa trường khi tan học đã có những trang nam nhi đứng chờ và đưa đón. Lối nó dối lúc đầu là anh rồi anh họ, cô bạn Vân-Cương của tôi sáng tác gọi là cháu nhưng sau cũng bại lộ.
Nhớ năm học đệ-nhị nhân ngày Noel, Vân-Cương xin phép cho tôi được tham dự lễ nửa đêm, chị đến đưa đi và chở về nhưng Bố tôi dặn là cho tôi lại nhà lúc 10 giờ, sau chị cứ trì-chiết là nhà con Dương ăn lễ Reveillon lúc 10 giờ. Dung, Giang có Bồ nhưng cũng không dám đi một mình nên hai chị cứ kéo tôi đi làm kỳ-đà bây giờ nghĩ lại sao thấy mình ngu dại quá thiên hạ cứ múa may trước mặt mà mình thì lẽo-đẽo theo sau lòng buồn rười rượi.

Ở tuổi chúng tôi tuy mặc đồng phục nhưng cũng cố làm cho đẹp bằng cách chọn nhà may nào cho khéo để làm nổi những nét đẹp trời cho nhưng đều bị nhà trường khiển trách. Lũ chúng tôi bị giữ lại không cho vào lớp, giáo sư Việt-văn, cô Nguyễn-thị-Tỉnh cảm-thông đã có đôi lời phiền trách khi các bà giám-thị quá khắc-nghiệt:
Khi xưa ai cấm duyên bà, bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi
Cô Tỉnh tính cởi mở, rộng rãi dễ thương, sau này khi tôi trở về trường thực tập cô giúp đỡ tận tình; nhưng người hiền, tốt lại vắn số cô đã rời bỏ cõi tạm khi tuổi đời còn sung mãn, chúng tôi thương mến cô nhiều.
Cô Nguyễn-thị-Hồng dạy Pháp-văn lớp đệ tam, tôi còn nhớ những lá thư Ba-tư mà cô thường giảng. Cô xinh đẹp trang phục theo lối mới, son phấn nhẹ nhàng, áo quần thường là màu nhạt, tóc cắt kiểu a la garcon, cô đi dạy học bằng xe Velo-solex, cô vui vẻ dễ thương và sau này cô là phu nhân của bộ trưởng Ngoại-giao Vương-văn-Bắc.
Cô Lan (nhỏ) dạy Anh-văn lớp đệ-tam nghe nói cô mới du học về, chắc là cô đọc đúng giọng nhưng chúng tôi phải uốn lưỡi rất nhiều mà cô vẫn lắc đầu.
Cô Lâm-thị-Phúc dạy chúng tôi anh ngữ lớp đệ nhị cô cũng từng đi du học, cô đẹp người và tốt tướng nói hay nhưng chúng tôi học ban khoa-học nên cũng lơ là. Bây giờ nghĩ lại hối hận vô cùng nếu có tài Tiên-tri thì đã chăm chỉ và giờ này đỡ vất vả.
Rất hiểu và thông cảm với ban giám đốc, vì là trường nữ dưới tay 5, 6 trăm học sinh nếu kỷ-luật không nghiêm thì sẽ mang tiếng và loạn ngay. Các bà giám thị phần lớn đã đứng tuổi, thuộc phái cổ nên câu Nam nữ thụ thụ bất thân, được thi hành triệt để. Tôi còn nhớ khi ngày lễ Trưng-Vương gần kề, lũ chúng tôi phải xuống sân tập đi cho đều, để có nhịp điệu ban quân nhạc Hải-quân được gửi tới. Chúng tôi lợi dụng thời cơ mong sớm được ra khỏi lớp nên cứ nhấp nhổm trông ngóng các anh quân nhạc, bà giám thị ghét lắm đã buông nhiều câu hơi khó nghe (thấy trai là mắt sáng lên) nhưng chúng tôi chẳng giận mà còn lấy thế làm thích thú càng trêu chọc bà thêm.
Bà Nết là giám thị nhưng bà thích tụi học trò gọi bằng Me, bà thường cho chúng tôi ăn bánh đậu, bánh đúc, chúng tôi hay chọc cho bà cười là bà quên hết tội trạng, bà rất hiền.
Bà Trí, bà hay làm dáng, phấn son quần áo như bà Đồng, bà cũng dễ tính và ưa nghe nịnh, chúng tôi biết nhà bà và thường rình xem trộm những lúc bà mặc quần đùi tập thể-dục trước hiên nhà.
Cô Tổng giám thị Nguyệt-Minh, cô đẹp, dáng sang nhưng rất lạnh, bộ đã tuyển lựa đúng với chức vụ của cô.
Con gái nếu đứng một mình rất hiền và dịu dàng (có thật không??) nhưng khi chúng tôi là một nhóm thì phải xét lại, số là vào một buổi sáng lúc chúng tôi đang tập thể-dục ở sân trường với cô Tăng-thị-Hiền thị một kẻ khác phái đi ngang qua vào văn phòng chắc để xin phép cho em hay chị. Một trò chơi cậy đông bắt-nạt, cả lũ chúng tôi quan sát lúc đầu chàng trai đi rất hùng dũng nhưng sau đó, chúng tôi mấy chục đôi mắt dòm theo và đồng đếm bước làm chàng chân cứ muốn khuỵu lại không đi được, thực tội nghiệp thế mà chúng tôi phá lên cười, làm cho khi trở ra chàng ta ù té chạy như ma đuổi..
Về các thầy thì nghe nói bà hiệu-trưởng tuyển lựa rất kỹ. Các thầy phải trọng tuổi, có gia-đình; một vài trường-hợp kẹt mới có các thầy trẻ độc-thân.
Thầy Đỗ-minh-Tiết dạy toán đệ nhất, thầy tỏ ra nghiêm và kỷ luật, chúng tôi bàn nhau làm găng thầy phải năn nỉ hứa cho điểm cao mới chịu học.
Thầy Nguyễn-Hữu-Tài thầy là tác-giả của bộ Lý-Hóa Đệ-Nhị và Đệ-Nhất. Thầy rất khó, chuông reo chúng tôi vào lớp tưởng thầy chưa đến đứa nào đứa nấy ba hoa nói chuyện nhưng cuối giờ thì nhận được giấy phạt và không xin xỏ gì được cứ việc tuân hành.
Thầy Đào-văn-Vĩnh dạy Lý-Hóa; thày cho bài tập nhưng không giảng, chỉ chép bài mẫu trên bảng. Tôi còn nhớ là thầy không đọc được chữ chlori natri (nadi).
Thầy Lý-Quốc-Sỉnh dạy Việt-văn. Chúng tôi thú-vị vì lối giảng thơ của thày.
Thầy Đặng-Trần-Lợi là phu-quân cô Tôn-nữ Phương-Tần. Cô đẹp nhưng nghiêm; trái lại thầy rất dễ-dãi, dạy Vạn-vật mà thầy không chịu vẽ vì thầy bảo trong sách vẽ đẹp hơn.
Thầy Đàm-sĩ-Hiến dạy chúng tôi Pháp-văn đệ nhị, thầy cẩn thận và sạch sẽ, thầy thường mang khăn mặt ướt theo, mỗi khi viết bảng và dạy xong là thầy dùng khăn lau đến đỏ mặt tía tai, thầy nghiêm nhưng ít phạt, môn học này rất khó nhất là những bài giảng văn và phê bình triết lý tiêu cực của La martine, tư tưởng một bài thơ, một tác giả. Thầy là bộ trưởng bộ Lao-động trong chính phủ giờ dậy trong trường Trưng-Vương chỉ là một thích thú riêng của thầy.
Thầy Nguyễn-Viết-An dạy Toán nhưng ít ai hiểu. Muốn thi đậu phải kiếm các thầy ở trường tư như nhóm thầy Nguyễn-Xuân-Nghiên, Nguyễn-văn-Phú.
Thầy Lữ-Hồ dạy Triết, môn học mới nhiều danh-từ trừu-tượng khó hiểu. Để qua được kỳ thi chúng tôi lại phải tìm thày Trần-Bích-Lan hay linh-mục Trần-văn-Hiến-Minh.
Thầy Nguyễn-Tuấn-Anh dạy Vạn-vật Đê-Nhất về Cơ-thể-học. Tuy cũng là môn học mới và khó nhưng thầy dạy rất vui, có thể dậy học là sở thích riêng vì trong thời gian đó thầy là Bác-sĩ của Tổng-Thống-phủ.
Thầy Lê-Ân dạy sử, thầy rất hiền nhưng giọng thầy hùng hồn mỗi khi diễn tả các vị vua, tướng lãnh anh dũng chống xâm lăng. Một điểm ghi nhớ là khi thầy viết lưu bút cho học trò thầy đều gọi chúng tôi là chú, câu cuối cùng của thầy vẫn là: Chào quyết thắng. Nghe nói sau này thầy sống rất thanh-bạch và thầy đã trở về với cát bụi, cầu chúc thầy yên vui nơi tiên-cảnh.
Thầy Tăng-xuân-An dạy sử năm đệ-nhị, thầy dạy hay lôi cuốn và hấp dẫn mặc dầu sử Pháp trong cuộc cách mạng rất nhiều nhân vật, địa danh và niên kỷ khó nhớ. Cám ơn thầy đã giúp chúng con dễ dàng qua kỳ thi vấn đáp.
Thầy Nguyễn-sĩ-Tế (nổi tiếng có vợ đẹp) dạy chúng tôi Việt-văn năm đệ nhị, chương trình lớp này thật dài từ thời Nguyễn-Du tới Hiện-đại các tác giả có nhiều tác phẩm phong phú từ chữ Hán, Nôm, và quốc-ngữ. Thầy Tế viết rất nhiều sách khảo luận về các tác giả rất hay như: Chu-mạnh-Trinh, Cao-bá-Quát, Trần-tế-Xương, Tản-Đà, Nguyễn-Du vv..vv.. thầy dạy hay nhưng giọng nói của thầy không mấy hấp dẫn. Sau này lên Đại-học Sư-phạm tôi cùng lại được thụ giáo thầy, nhờ vậy khi hành nghề tôi có nhiều tài liệu, ý kiến mới lạ và xác đáng. Với lòng hăng say Quốc-văn bây giờ thầy vẫn còn tham gia công tác dạy việt-văn cho trường Đại-học - Việt tại xứ người. Xin ca ngợi tinh thần dân-tộc nơi thầy.
Thầy Phạm-Kế-Viêm, thầy Đàm-Quang-Hưng là hai thày đẹp trai, vui tính, độc-thân. Có lẽ bà hiệu-trưởng quên không xem lý-lịch nên thầy vào trường đã liếc cô bạn thân của tôi đến nỗi bạn tôi đã đổi ngôi-vị từ bạn ra “cô” và giờ này thầy vẫn còn luyến tiếc đám nữ-sinh Trưng-Vương nên tơ-tình còn dệt mãi. Tôi chỉ là người học-trò trung-bình nhưng hân-hạnh được học chung với các bạn giỏi nổi tiếng như Trinh-Thục, Đạm-Cúc, Diệu-Vinh, Nguyễn-thị-Phương, các bạn có sắc đẹp chim sa cá lặn như Lệ-Giên, Lệ-Hằng, Ngọc-Châu, Ngọc-Hoàn, Trần-thị-Tân (Nguyệt), Tú-Thủy, Hòa-Phong những kẻ đẹp đó đã theo chồng bỏ cuộc chơi rất sớm làm cho người còn lại có đôi chút ngậm-ngùi.
Các thầy cô tôi trong những năm Tiểu-học, trung học còn ghi lại tâm-trí tôi những kỷ-niệm đẹp và đã giúp chúng tôi một căn-bản học-vấn để vào đời; xin ghi ơn mãi.
Chính vì yêu thầy cô, yêu trường sở và yêu sự trong trắng, thơ ngây, vô tư của đời học-sinh mà kẻ viết bài này cũng cố gắng vào nghề gõ đầu trẻ mong tìm về thế-giới thần-tiên thuần-khiết của tuổi học-trò.

Thưa các bạn, giờ này tuổi đã cao để ký-ức tràn về dĩ-vãng có thể rất nhiều sự việc vì trí-óc già-nua không nhớ hết nhưng một số hình ảnh, sự việc của những ngày đã qua làm cho kẻ này vui sướng như một trẻ thơ. Xin cám ơn thầy cô và các bạn, mỗi lần hồi tưởng lại dù vui hay buồn của tuổi học-sinh đều làm cho tôi xúc-động và ưu-ái, cứ muốn miên man sống trong kỷ-niệm vì thế tôi đã gọi những dòng ý này là: Ngày-xưa thân-ái.

Ra hải-ngoại cô-đơn, buồn chán, tuổi già sồng-sộc tới, một lần nữa cám ơn hội Cựu nữ-sinh Trưng-Vương đã không quản ngại những khó-khăn, vẫn hàng năm tổ chức ngày giỗ Hai-bà, quí vị đã làm công việc của người con dân nước Việt là vinh danh các anh hùng dân-tộc sau nữa để có dịp cho chị em của trường gặp nhau ôn lại kỷ niệm về các thầy cô, trường-sở và các bạn cũ, ít nhất chúng ta cũng tìm được tuổi thơ trong những giờ họp mặt.

MỸ-DƯƠNG (TV 1953-1960)
Back