Rồi ba trăm năm nữa!

Rồi ba trăm năm nữa,
Ai khóc đời Tố Như ?
KT

Trời mùa xuân trong xanh, nắng xuân hồng rực rỡ, tiếng chim hót líu lo. Bên trong công viên cỏ non xanh mượt mà, hai bên con đường mòn uốn lượn lên xuống là những cành hoa đào chi chít, nở trắng xoá, rực rỡ. Tiểu muội chăm chú rảo bước, vừa đi “ếc-xơ-xai (exercise) vừa suy nghĩ vẩn vơ để tìm ý... phiếm, chợt nghe văng vẳng giọng ngâm thơ sang sảng:
“Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Tiểu muội thảng thốt kêu lên:
- Trời ơi!
Hai câu thơ Kiều thân yêu ngày nào còn đi học sao lại rơi mãi sang đây?
Trong xứ Mỹ xa xôi này, vào một ngày mùa xuân đẹp đến chết người thế này được?
Kìa, những cô bé áo trắng tung tăng cắp sách tới trường! Kìa những giờ Việt văn tràn đầy thơ mộng, lãng mạn và cũng không ít vất vả vì những điển tích trong chuyện Kiều của Nguyễn Du. Kìa bạn bè, thầy cô, cha mẹ, anh em và quê hương thuở thiếu thời! Bao nhiêu hình hình ảnh thân ái chợt xôn xao, lũ lượt trở về làm đôi mắt chợt cay. Kỷ niệm bao giờ cũng đẹp, cũng buồn và cũng làm tim thổn thức, nghẹn ngào... “Nhưng mà sao lại vào một ngày đẹp trời như hôm nay?”
Tiểu muội giận dỗi nghĩ thầm, chớp nhanh đôi mắt, bước chậm vào một lối quanh rồi đến ngồi xuống chiếc băng ghế bên gốc hoa đào. Nhắm mắt, hít một hơi thật dài nghe mùi không khí nhẹ tênh, lành lạnh thoảng rất nhẹ một chút mùi hoa. Một lát, mở mắt ra, tiểu muội chợt giật bắn mình.
Trời đất ơi, trông xa xa mà cũng gần gần là một chàng ...
Trời ơi! Chẳng lẽ tiểu muội nhìn lầm?
Không thể được nhưng mà...!
Không thể nào lầm được! Phải chăng...?
Rõ ràng là chàng ...Kim Trọng!
Dáng ngưòi thanh tú, trắng trẻo, cao ráo, bảnh trai quá chừng. Chàng mặc quần trắng, áo dài the thâm, chiếc khăn chữ nhân đội ngay ngắn trên đầu, tay cầm chiếc quạt, chân đi đôi giày Gia Định và chàng đang thơ thẩn đi trên bờ cỏ non xanh biếc, thật đúng là:
“Hài văn lần bước dặm xanh,
“Một vùng như thể cây quỳnh, cành dao”.
Tiểu muội ngẩn ngơ cả người. Chà, mình già thế này mà còn thế, huống chi chị em cô Kiều! Ấy, nhưng mà... thế này thì không được! Đến khổ! Chết mất thôi! Bóng chàng Kim xa dần, tiểu muội đứng phắt dậy đuổii theo, miệng kêu toáng lên:
- Ông... gì ơi, ông... Kim Trọng ơi, ông đi trên cỏ coi chừng bị phạt đấy. Kim Trọng (cứ coi như Kim Trọng đi, bởi vì khi tiểu muội gọi thì chàng dừng chân lại.) quay lại, chắp hai tay trước ngực, trịnh trọng duyên dáng cúi đầu chào:
- Cô tiểu muội có điều chi dậy bảo?
Tiểu muội nhìn kỹ lại giật bắn mình lần nữa. Có cái gì lạ lắm cơ. Hình như đây không phải là Kim Trọng! Kim Trọng gì mà lớn tuổi thế này? Trông ông này chắc cũng đến ...gần 60 trong khi Kim Trọng lúc tiểu muội quen biết chàng thì chàng mới mười mấy. Cùng lắm, sau khi tái ngộ nàng Kiều chàng mới chừng trên 30 thôi chứ, làm gì mà tới... xấp xỉ năm sáu chục tuổi được? Lòng chợt rầu rĩ: “Ngày mình học chuyện Kiều, làm quen với Kim Trọng, Thúy Kiều mình mới có mười mấy cái xuân xanh như chàng mà nay đầu mình cũng hai thứ tóc rồi còn gì... Ông này trông lịch sự lại ăn nói rất... văn nhân. Dám là Kim Trọng thật lắm ạ” Tiểu muội ngập ngừng:
- Dạ, thưa... ông... văn nhân, luật Mỹ cấm đi trên cỏ. Họ mà bắt được, họ phạt nặng lắm ạ.
Ông... Văn Nhân nở nụ cười thật tươi, vung cây quạt trong không khí, gật đầu:
- Thế à, cám ơn cô tiểu muội nhá. Tôi tính vốn lơ đãng lại đang thưởng thức cảnh thiên nhiên tuyệt vời bên xứ người không hề để ý tới luật lệ thế nhân. Ông nhìn quanh, gật gù:
- Tuyệt, tuyệt thật, còn đẹp hơn tranh vẽ. Cảnh này mà đem vào thơ thì trác tuyệt. Nhưng mà... cám ơn cô tiểu muội nhắc nhở.
Tiểu muội cũng vội vàng lịch sự chắp tay, cúi đầu đáp lễ:
- Dạ, không dám.
Ông thong thả, lững thững quay đi. Tiểu muội ngẩn ngơ nhìn theo...
- Lại đi trên cỏ!
Tiểu muội đang định gọi ông thì ông quay lại, cười cười:
- Cô đừng lo, cảnh sát bắt ai chứ chả bắt tôi đâu.
- ...?
- Tại vì tôi không phải là người bây giờ mà tôi là người của “muôn năm cũ”.
Chắc ông này hù mình đây. Mình tuy nhát thật nhưng ban này ban mặt thế này mà đòi nói chuyện :
“Những người muôn năm cũ.
Hồn ở đâu bây giờ!”.
Tiểu muội còn đang suy nghĩ thì thấy ông ngước mắt nhìn mông lung lên nền trời xanh biêng biếc, lồng lộng gió. Rồi như xuất thần, ông thong thả ngâm:
“...Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư...”
Ông thở ra một hơi thật dài rồi ngậm ngùi:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” (1)
Đang ngẩn ngơ như chúa Tàu nghe kèn khi nghe ông đọc một tràng thơ chữ Hán, thoáng nghe được vài chữ quen quen, hơi hiểu hiểu “Cổ kim hận sự thiên nan vấn... . Chợt nghe hai câu cuối đã được học từ ngày xưa, lại đúng có chữ Tố Như, tiểu muội mừng quá reo ầm lên:
- Tố Như! Thưa thế ra cụ là cụ Tiên Điền Nguyễn Du! Thật hân hạnh cho cháu quá!
Ông cũng như chợt tỉnh mộng, gật đầu trả lời:
- Phải, tôi chính thị Tiên Điền!
Tiểu muội lúng túng. Trông người thì thiệt tình còn trẻ, chỉ già hơn mình chút đỉnh, gọi bằng cụ thì tội cho... cụ, nhưng mà ...cụ sống cách đây tới gần 400 năm, xưng hô làm sao cho phải phép để khỏi bị mắng nhỉ. Như đọc được nỗi khó ăn, khó nói của tiểu muội, thi nhân thong thả bảo:
- Cô tiểu muội ạ, việc xưng hô chỉ để tiện dụng thôi. Người tài tử, khách văn nhân tuy chẳng bao giờ bận tâm về những điều nhỏ mọn đó nhưng... gọi tôi là cụ thì nghe cũng hơi buồn. Tôi mới có năm mươi sáu tuổi. Tiểu muội loay hoay suy nghĩ mãi rồi đánh bạo:
- Dạ thưa... thi hào...
- Bậy, bậy nào. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là thi hào hay thi bá. Tôi chỉ muốn làm một nhà thơ. Tôi làm thơ để tả cảnh, tả tình, ngâm thơ, vịnh nguyệt, nói lên tâm sự mình, nói lên những nỗi khổ của người dân nghèo đói để vua quan thương đến thân phận họ cho họ nhờ.
- Dạ thế thì cháu xin thưa bằng ... tiền bối. Tuy có vẻ Tàu Tàu nhưng cháu không biết thưa gửi cách nào khác hơn. Nguyễn Du gật gù: - Thôi, cứ tạm xưng hô như vậy. Cô có chuyện gì muốn nói?
Tiểu muội chắp hai tay vái dài:
- Chúng cháu hơn ba trăm năm sau, còn được học hành, thưởng thức những áng văn thơ của tiền bối rất lấy làm thán phục và ngậm ngùi.
- Không dám, ta than thở chỉ vì có nhiều tâm sự, lại buồn vì mai sau chắc gì có người hiểu được lòng mình.
- Thưa tiền bối, người ta không những hiểu tâm sự tiên sinh mà còn mê mẫm ngâm vịnh, học hỏi, đưa vào chương trình học, viết sách báo biên khảo về truyện Kiều nữa cơ ạ. Dù tác phẩm của tiền bối có rất nhiều bằng chữ nôm cũng như chữ Hán nhưng người ta vẫn nghĩ rằng tiền bối đem tâm tư ra ký thác hết vào chuyện Kiều...
- À... à, chuyện Kiều ... Phải, văn là người. Mỗi nhân vật là điển hình cho một giai cấp, một hạng người, một tâm sự, suy nghĩ, một niềm mong ước. Tóm lại tác phẩm là phản ảnh cho xã hội đương thời ta sống.
- Thưa tiền bối... “Vào năm Gia Tĩnh triều Minh”...
- Ta mượn “Truyện Thúy Kiều” của Thanh Tâm tài nhân để dựng lại câu chuyện và chuyển sang thơ. Ta dùng không gian và thời gian xảy ra câu chuyện bên Tầu để minh xác rằng đây không phải là chuyện ta đặt ra để bọn đồng triều có thể dèm pha...
- Dạ, thưa tiền bối, cô Kiều có số phận truân chuyên phải chăng là cuộc đời tiền bối? Cũng nổi trôi, cũng thất tiết với Kim Trọng như tiền bối đã phải bỏ lòng trung sau khi vua Lê, chúa Trịnh bị Tây Sơn diệt mà ra phục vụ nhà Nguyễn Gia Long?
Nguyễn Du thở dài:
- Ta tưởng giúp nhà Nguyễn Gia Long đánh nhà Nguyễn Tây Sơn để khôi phục ngai vàng cho giòng dõi nhà Lê, không ngờ... Nguyễn Ánh lại chiếm luôn đất nước của vua Lê mà lập ra nhà Nguyễn! Ta “ngộ biến” lại phải “tùng quyền” ra làm quan với họ. Cô tiểu muội biết đấy:
“Bó thân về với triều đình.
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?”
- Thưa tiền bối, đã biết thế sao Kiều lại thuyết phục Từ Hải về hàng?
- Cô nên nhớ với hàng ngàn năm học đạo lý “Trung thần bất sự nhị quân”. Quan phải trung với vua, phản loạn là tội tử nên lòng ta rất nhiều khi bất ổn. Ta vẫn âm thầm ao ước được phục hồi giòng dõi nhà Lê nhưng vì gần gũi với dân, ta thương dân lành chịu cảnh can qua khi có chiến tranh, ta chỉ mong người dân được sống thanh bình nên ta đành để Kiều mang đạo lý Khổng Mạnh ra thuyết phục Từ Hải về hàng.
- Thế nên Từ Hải ra hàng rồi bị lầm mưu Hồ Tôn Hiến và chết đứng ngay giữa trời?
Nguyễn Du ngậm ngùi:
- Ta nào muốn thế. Tình tiết câu chuyện chỉ là cái cớ để ta gửi gấm tâm sự mình. Ta mượn cảnh thời xưa bên xứ người để nói lên cảnh thời ta sống. Cô xem, ở đâu mà không có cảnh bức hiếp dân lành:
“Đồ tế nhuyễn, của riêng tây
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”
Vì ức hiếp dân nên người dân mới khốn khổ, mới có cảnh Kiều phải bán mình chuộc cha để chịu cảnh “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
Tiểu muội đỡ lời:
- Và mới có Từ Hải đứng lên làm loạn...
- Đúng thế, Từ Hải chính là người anh hùng đứng lên chống lại bọn vua, quan ô lại. Từ Hải cũng là tấm lòng ao ước ta gửi vào trong đó.
- Thưa tiền bối, về văn chương, chúng cháu được học cẩn thận nên cũng hiểu rằng văn chương như thế là trác tuyệt nên cháu không dám hỏi thêm nhưng có những điều bọn hậu sinh chúng cháu rất lấy làm ...thắc mắc.
Thi hào Nguyễn Du thong thả:
- Cô cứ hỏi. Hơn ba trăm năm đã trôi qua, ta trở lại trần gian, đã tưởng rằng chẳng còn ai biết mình. Không ngờ trong một ngày xuân đẹp như hôm nay mà còn gặp được người còn biết tới mình để hỏi han chẳng là quý hóa lắm ru?
Tiểu muội lễ phép:
- Thưa tiền bối, tính cháu hay nhiều lời...
- Thế thì cô chỉ nên tóm gọn vào điều gì làm cô thắc mắc nhất thôi vì ta còn phải đi dự hội với các bạn thơ của ta nữa.
- Dạ, cháu xin tuân theo ý tiền bối. Thưa tiền bối, việc vì bị vu oan, giá họa đến nỗi gia đình tan nát, Kiều phải bán mình rồi bị lừa gạt phải vào chốn phong trần, lưu lạc truân chuyên, gặp người tốt thì ít, người xấu thì nhiều thì cháu đều hiểu được vì trong xã hội ngày xưa, người dân thấp cổ, bé miệng luôn chịu thiệt thòi...
- Đúng thế. Mạng người dân như con sâu cái kiến, lúc nào cũng có thể bị dầy xéo.
- Nhưng riêng vấn đề tâm lý cô em Thuý Vân thì cháu hơi ...bất mãn. Gia cảnh thảm thương, bố vừa bị cầm tù, chị phải bán mình chuộc cha mà không thấy Thuý Vân đóng vai trò gì để giúp đỡ gia đình! Trong khi cô chị khóc lóc thở than: “Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn” thì cô em vẫn nằm ngủ ngon lành cho tới khi:
“Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,
“Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han...”
Thi sĩ khẽ nhíu đôi lông mày:
- Cô nên nhớ hai chị em Kiều mới tới tuần “cập kê” tức là chỉ chừng 15,16, còn đang tuổi dậy thì, ngây thơ. Kiều vì bản tính đa tình lại thêm lời thề ước với Kim nên mới đau thương đến diều. Vân tuy cũng buồn vì gia cảnh nhưng đang tuổi ăn, tuổi ngủ, thấy nguy hiểm tạm thời đã qua lại thêm tính vô tư nên chuyện Vân có vô tình cũng là thường. Hơn nữa, ta cũng cố tình tả hai chị em với hai nhan sắc và hai tâm hồn khác biệt để đưa tới hai cuộc đời, hai số mệnh trái ngược hẳn nhau.
- Thưa tiền bối, còn một điều nữa: Sau khi Kim Trọng về hộ tang chú, trở lại chốn xưa mới hay tin dữ. Chàng tìm kiếm mãi vẫn không thấy Kiều thì rất đau lòng:
“Sinh càng thảm thiết khát khao
“Như nung gan sắt, như bào lòng son
“Ruột tằm ngày một héo hon
“Tuyết sương ngày một hao mòn lòng ve.
“Thẫn thờ lúc tỉnh, lúc mê
“Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao...
Thế mà khi được gá cho Thuý Vân là chàng chịu ngay:
“Người yểu điệu, kẻ văn chương
“Trai tài, gái sắc, xuân đường kịp thì
- Cô nên nhớ rằng:
“Tuy rằng vui chữ vu quy
“Vui này đã cất sầu kia được nào...”
Nhưng mà cô ạ, thời gian là liều thuốc lãng quên! Đau đớn nào mà chẳng nguôi ngoai? Hơn nữa, cô phải nhớ Thuý Vân cũng là người xinh đẹp, đoan trang, dịu hiền, không phải dễ tìm thì dĩ nhiên chàng Kim cũng phải để nỗi nhớ Kiều nguôi đi chứ.
Tiểu muội nhẹ nhàng:
- Tiền bối đúng là thấu hiểu tâm lý đàn ông! Đàn ông, dù chung tình như Kim với Kiều mà cũng chịu... lấy vợ lẽ ngay khi có dịp. Cháu xin hỏi, như thế sao tiền bối lại cho cô Kiều thách thức, hành hạ Kim cho mãi tới tận cuộc đời bằng cách bắt chàng:
“Từ rày khép cửa buồng thu
“Chẳng tu thôi cũng là tu mới là
“Chàng dù nghĩ đến gần xa
“đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ”
Thưa tiền bối, đàn bà đang xuân. Cô Kiều là người nhan sắc nghiêng thành thì ba mươi tuổi, lại không có con cái thì còn đang nồng nàn tình xuân còn hơn con gái mơn mởn đào tơ...
- Nhưng tâm hồn cô đã ê chề tủi nhục, đã chết đi sống lại thì cô đâu còn thiết chuyện nguyệt hoa sau khi bướm chán, ong chê.
- Thưa tiền bối, vì vậy cháu mới tội nghiệp chàng Kim. Đã thuyết phục được vợ nhà là Thuý Vân, thuyết phục được cha mẹ vợ là ông bà Vương nói vun vào, đã được làm lễ động phòng cùng Kiều:
“Canh khuya bức gấm rũ thao
“Dưới đèn tỏ dạng, má đào thêm xuân
“Tình nhân lại gặp tình nhân
“Hoa xưa, bướm cũ mười phân chung tình...”
Tiểu muội chép miệng, tiếc rẻ:
- Thế mà chàng Kim trót dại dột bị Kiều thuyết phục để buột miệng:
“Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm!”
Mà có phải chàng bớt yêu đâu? Chàng còn yêu Kiều ghê gớm hơn từ khi gặp lại:
“Thoắt thôi tay lại cầm tay
Càng yêu vì nết, càng say vì tình...
Thi nhân cười tủm tỉm:
- Cô tiểu muội cứ nói tiếp.
- Dạ, theo ý cháu thì cái chuyện:
“Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ
“Khi chén rượu, khi cuộc cờ
“Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên
“Ba sinh đã phỉ mười nguyền
“Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy...
Tiểu muội lắc lắc đầu:
- Cháu chắc họ giữ cái “Duyên bạn bầy” của tiên sinh không được lâu. Thưa tiên sinh, lửa gần rơm thế nào mà chẳng... cháy? Huống chi họ cứ nắm tay, nắm chân vào những lúc đêm hôm khuya khoắt để ngắm hoa, vịnh nguyệt rồi lại, thưa tiên sinh, còn thêm tí rượu nồng nhâm nhi nữa thì...
Tiểu muội thở một hơi thật dài, rầu rĩ:
- Ôi chao! Cái kết cuộc thơ mộng, tốt đẹp tiên sinh nhọc công xếp đặt cho họ chắc chẳng được dài lâu. Không chửng sau cái đêm hội ngộ trong sạch như băng ấy, họ đã có với nhau năm bẩy cô chú bé họ Kim rồi cũng nên.
Thi nhân cười, lắc đầu:
- Cô đúng là thế nhân thường tình.
Từ xa, chợt có tiếng văng vẳng:
- Xin mời Tiên Điền tiên sinh lên đường tới dự hội thơ kẻo trễ giờ đấy ạ.
Thi nhân cụp chiếc quạt vào:
- Cơ duyên được gặp cô tiểu muội hôm nay làm ta vui vì biết tâm sự mình, dù ba trăm năm trôi qua vẫn còn được người tìm hiểu. Thôi, bây giờ ta phải đi...
Tiểu muội trịnh trọng chắp hai tay, xá thật sâu:
- Kính chào... tiền... bối!
Chiếc bóng thanh nhã của người thi nhân muôn thuở mờ dần, mờ dần...
Tiểu muội đứng ngẩn ngơ nhìn theo.
Gió xuân vẫn rung nhẹ những cánh hoa đào.

Ghi chú:
Nguyễn Du sinh năm 1765 tại phường Bích Câu, kinh đô Thăng Long. Con cụ Hoàng-giáp Xuân Quận-công Nguyễn Nghiễm. Cha làm Thượng-thư bộ Công, đời Lê Hiển Tôn và cũng là Tham-Tụng, tương đương chức Tể tướng tại phủ chúa Trịnh. Nguyễn Du đậu cử nhân năm 19 tuổi và ra làm quan với nhà Lê. Khi nhà Lê mất, ông về ở ẩn. Khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ông được vời ra làm quan: Tri huyện Phụ Dực (1802) , Đông Các Học-sĩ (1806), Cai bạ Bố Chánh (1809), Cần-chánh điện học-sĩ (1813) làm chánh sứ sang cống nhà Thanh. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) lại có lệnh đi sứ sang Tầu lần nữa nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh mất. Hưởng thọ 56 tuổi.
Những tác phẩm chữ Hán của ông: Thanh Hiên tiền, hậu tập. Bắc Hành thi tập, Nam trung tập ngâm, Lê quý kỷ sự và rất nhiều thơ chữ Nôm, nổi bật nhất là Văn tế thập loại chúng sinh và Truyện Kiều.

KT
Back