DANH NHÂN VIỆT NAM LƯỢC SỬ
Vương Trùng Dương tổng hợp
TRƯNG NỮ VƯƠNG (40-43)

Vào đầu thế kỷ thứ I, nước ta còn bị lệ thuộc nhà Đông Hán (25-220) bên Tàu, Thái thú Giao Chỉ là Tô Định vô cùng bạo ngược, làm lắm điều tàn ác, người người oán hận. Chính sách ngoại biên của nhà Hán với nhiều luật lệ ngặt nghèo, khắt khe đã khơi dậy ngọn lửa oán hờn trong lòng dân nước Việt

Trưng Trắc sinh năm Giáp Tuất (năm 14 sau Tây Lịch), quê ở Mê Linh (Yên Lãng, Phúc Yên nay thuộc vùng Hạ Lôi, Yên Lãng, Vĩnh Phúc). Cha là Trưng Định, làm quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh. Mẹ là bà Man Thiên, tức Trần Thị Đoan, dòng dõi Hùng Vương.

Gia đình ông Đặng Tập ở Chu Diên thuộc dòng dõi Lạc Tướng, con trai ông là Đặng Thi Sách, khôi ngô, giỏi võ nghệ, có tinh thần yêu nước. Được tin ở Mê Linh có hai nữ lưu có ý chí kiên cường, dám chém đầu Tích Lâm khi buông lời khả ố, chọc ghẹo nên tìm đến kết thân.

Thi Sách và Trưng Trắc cùng chung chí hướng, tài giỏi võ nghệ, tâm đầu ý hợp nên kết nghĩa phu thê.

Năm 39, Tô Định giết Thi Sách. Vừa giận thù nhà, vừa hận nợ nước, nên Trưng Trắc cùng với em là Trưng Nhị chiêu binh mãi mã phất cờ khởi nghĩa đánh quân nhà Hán. Sau khi làm lễ để tang chồng, Trưng Trắc thảo tờ hịch kể tội ác của quân nhà Hán và kêu gọi dân chúng đứng dậy chống giặc thù để phổ biến khắp nơi.

Dưới bóng cờ nương tử, nghĩa binh Mê Linh phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về dưới bóng cờ khởi nghĩa nhằm tiêu diệt quân xâm lăng.

Theo tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị, ngoài các anh hùng đáp tiếng gọi thiêng liêng, cao cả, nhiều vị nữ lưu đã dấn thân trong đó có nữ tướng Lê Chân, quê ở An Biên (Quảng Ninh), ái nữ của Lê Đạo, nhân sĩ tài đức, nổi danh ớ An Biên. Tô Định cho người đến gặp Lê Đạo để nói chuyện cầu hôn Lê Chân làm vợ nhưng bị từ chối nên trả thù khép tội bội phản nhà Hán để thanh toán. Lê Chân bỏ nhà vào chạy xuống vùng biển hoang vu để lãnh tránh và chiêu nạp người tài đức để mong đợi thời cơ khởi nghĩa. Nữ tướng Lê Chân chỉ huy nghiã binh đánh quân Tô Định từ phía Bắc, lập được nhiều chiến công hiển hách. Năm 42, quân Mã Viện hai mũi giáp công với thủy bộ, tuy quân ít nhưng bà vẫn kiên trì cầm cự trong thời gian khá lâu cho đến khi thất thế bà tự vẫn để nêu cao khí tiết bậc nữ tướng.

Nữ tướng Thánh Thiên ở Bích Uyển (Hải Hưng), mang nặng thù nhà nợ nước, có tài thao lược, đứng lên chiêu tập nghĩa quân, lực lượng của bà đồn trú ở phía Bắc, áp đảo quân Tô Định. Bà được Hai Bà Trưng trọng vọng, sau khi Hai Bà Trưng tự vẫn, bà vẫn tiếp tục chiến đấu với quân của Mã Viện, bởi quân ít thế cô bà theo gương Hai Bà Trưng để giữ vững tiết tháo.

Nữ tướng Thiều Hoa ở Lăng Xương (Vĩnh Phúc) hưởng ứng tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà đầu quân và là người có tài, đức nên được giao phó chỉ huy đạo quân, mở những trận đánh làm quân Đông Hán khiếp sợ.

Là bậc nữ lưu thuở đó nhưng rất kiên cường và đầy khí phách. Lời thề của Trưng Trắc đã được ghi lại trong Thiên Nam Ngữ Lục:

“Một, xin rửa sạch thù nhà
Hai, xin dựng lại nghiệp xưa vua Hùng
Ba, kẻo không oan ức lòng chồng
Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh nầy”

Chẳng bao lâu, quân của Hai Bà Trưng đã đánh hạ được tất cả 65 thành, Tô Định khiếp sợ, chạy về Nam Hải chịu tội với vua Hán.

Tin thắng trận bay đi, nhân dân các quận Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay), Cửu Chân và Nhật Nam (Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay) hưởng ứng rất đông theo tiếng gọi của hai vị nữ anh thư. Thanh thế của lực lượng khởi nghĩa thật lừng lẫy.

Trưng Trắc lên ngôi vua, tự xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh chấm dứt 150 năm Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Tây Lịch đến 39 sau Tây Lịch). Trưng Trắc lên ngôi vua, phong cho Trưng Nhị làm Bình Khôi Tướng Quân, nắm giữ toàn thể quân lực.

Tháng Chạp, năm 41, vua Hán Quang Võ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, mang 20 vạn quân sang đánh. Trận kịch chiến dữ dội giữa đại quân của Mã Viện với dân binh do Trư­ng Nữ Vương thống lĩnh đã diễn ra ở Lăng Bạc (Đông Triều - Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện mai phục trên các triền đất cao giữa vùng Lăng Bạc bị Trư­ng Nữ Vư­ơng đem quân tới chận đánh. Trận chiến đầu tiên với đạo quân của Mã Viện đã mang lại thắng lợi nhưng quân sĩ đã hy sinh quá nhiều; trước tình thế đó, Trư­ng Nữ Vư­ơng thu quân về giữ Cấm Khê (Hà Nội - Quốc Oai - Hà Tây).

Mã Viện xin tang cường thêm quân rồi tiếp tục kéo binh xâm lược, trận huyết chiến lại xảy ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Qua bốn trận thư hùng với quân địch, hàng vạn quân dân Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống trả với quân giặc đến cùng, Trưng Nữ Vương phải bỏ Cấm Khê lui quân về đến Hát Giang, nơi đây vì quân ít, thế cô và cùng đường, hai vị anh thư không muốn rơi vào tay quân địch bèn gieo mình xuống sông tự vận để bảo toàn danh tiết. Đó là ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43). Theo Nam Sử, Trưng Trắc hưởng hương 29 tuổi.

Mã Viện đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, dựng trụ đồng nơi phân chia địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nhằm đe dọa, người dân cam phận sống trong cảnh lầm than!

Ngày nay, ngoài quê hương Mê Linh, tại bãi Đồng Nhân ở vùng ngoại ô thành phố Hà Nội có ngôi đền cất từ năm Nhâm Tuất (1142) thờ Hai Bà Trưng rất lớn. Tại Hát Môn, Sơn Tây có Miếu Hát thờ Hai Bà Trưng, theo dân gian, nơi nầy rất linh thiêng...

Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ viết:

“Xét quân Hai Bà Trưng bị thua chạy đến núi Hy Sơn rồi không biết đi đâu. Trong đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đầu sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, ai có mặc áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng Vương chết vì việc binh đao nên không sắc đỏ vì giống như máu”.

Để tỏ lòng tôn kính, hàng năm vẫn tổ chức lễ kỷõ niệm hai vị anh thư Trưng Trắc và Trưng Nhị vào ngày mùng 6 tháng 2 Âm lịch.

Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có bốn câu:

“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nạng một lời nguyền
phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân
Ngàn Tây nổi áng phong trần
Ấm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quân nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp tan biên thành...”

Sách “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có những vần thơ vịnh Hai Bà Trưng:

Giúp dân dẹp loạn trả thù mình
Chị rủ cùng em kết nghĩa binh
Tô Định bay hồn vang một trận
Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.
Mới dày bảo vị gia ơn trọng
Đã đội hoa quan xuống phúc lành
Còn nước, còn non, còn miếu mạo
Nữ trung đệ nhất đấng tài danh”.

Vua Tự Đức đã đề cập về hai vị nữ anh thư: “Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà lóng hăng việc nghĩa, còn làm rung động được triều đình nhà Hán! Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa nghiêng, cũng đủ dấy dức lòng người, rỡ ràng sử sách...”

Đây là hại vị nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước nhà đã dấy lên ngọn cờ khởi nghĩa, chống trả ách xâm lược của Bắc Phương.

Sau ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, đất nước lại rơi vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai kéo dài đến 5 thế kỷ (43-544).

Vương Trùng Dương
Back